chương I “ những quy định chung”) NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống, chịu trách nhiệm về các hoạt động trước pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động. NHCSXH không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước. Chức năng của NHCSXH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 2 NHCSXH có chức năng tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư ; mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước. NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước.
NHCSXH thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ như cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước, thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt. NHCSXH nhận làm dịch vụ ủy thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong nước và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác. Vai trò của NHCSXH NHCSXH là một cơ quan tài chính của Chính phủ, có nhiệm vụ triển khai các chương trình cung cấp tài chính cho người nghèo, doanh nghiệp nhỏ và các đối tượng chính sách khác nên vai trò nó rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm nhất là các vùng nông thôn thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển SXKD góp phần cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống và vươn lên thoát nghèo, thực hiện mục tiêu quốc gia XĐGN, ổn định xã hội, tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái. NHCSXH ra đời đã hạn chế việc cho vay nặng lãi ở nông thôn; là một công cụ thực hiện vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đối với những đối tượng đang bị thiệt thòi nhiều nhất và là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng, trực tiếp giúp người nghèo và các đối tượng chính sách khác có điều kiện tham gia phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống, trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.2 Các hoạt động chủ yếu của NHCSXH Việt Nam NHCSXH là một tổ chức tài chính tín dụng trực tiếp thực hiện cho vay vốn đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, thực hiện huy động tiền gửi của công chúng và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
Hoạt động của NHCSXH bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 3 hoạt động huy động vốn; hoạt động cấp tín dụng; hoạt động ngân quỹ và các hoạt động khác.1 Hoạt động huy động vốn NHCSXH được huy động vốn dưới các hình thức như: nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo; phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật; vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vay ngân hàng Nhà nước; được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị và xã hội (CT&XH), các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và nước ngoài; vốn ODA được Chính phủ giao; vốn khác.2 Hoạt động sử dụng vốn Vốn vay từ NHCSXH được sử dụng vào các việc sau: - Đối với cho vay SXKD, dịch vụ thì vốn vay dùng để mua sắm các lọai vật tư, vật nuôi, phân bón, thức ăn gia súc gia cầm…phục vụ cho các ngành trồng trọt chăn nuôi; mua sắm các công cụ lao động nhỏ như cày, bừa, thuốc trừ sâu; các chi phí thanh toán cung ứng lao vụ như thuê làm đất, bơm nước, dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật; đầu tư làm các ngành nghề thủ công trong hộ gia đình; chi phí nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản; góp vốn thực hiện dự án SXKD do cộng đồng người lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép thực hiện. - Đối với cho vay làm mới nhà ở thực hiện theo từng chương trình, dự án của Chính phủ. Cho vay sửa chữa nhà ở thì NHCSXH chỉ cho vay đối với hộ nghèo sửa chữa lại nhà ở bị hư hại, dột nát và vốn vay chủ yếu sử dụng vào việc mua nguyên vật liệu xây dựng, chi trả tiền công lao động phải thuê ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 4 - Đối với cho vay điện sinh hoạt thì vốn vay được sử dụng chi trả chi phí lắp đặt đường dây dẫn điện từ mạng chung của thôn, xã tới hộ vay như: cột, dây dẫn, các thiết bị thắp sáng; cho vay góp vốn xây dựng thủy điện nhỏ, các dự án điện dùng sức gió, năng lượng mặt trời, máy phát điện cho một nhóm hộ gia đình ở nơi chưa có điện lưới quốc gia.
- Đối với cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường thì những nơi chưa có dự án tổng thể phát triển nước sạch cho vay làm giếng khoan, giếng khơi, xây bể lọc nước…, cho vay làm hố xí. - Cho vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về học tập như các chi phí cho học tập: học phí, mua sắm các thiết bị phục vụ học tập (sách, vở, bút, mực…) 1.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHCSXH gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước, thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ, thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng, tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ, các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.4 Các hoạt động khác Ngoài các hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và cung cấp các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHCSXH còn thực hiện các hoạt động như: nhận ủy thác và được thực hiện theo phương thức ủy thác cho các TCTD, tổ chức CT&XH theo hợp đồng ủy thác. Tóm lại trong các hoạt động trên thì hoạt động chủ yếu của NHCSXH là cho vay hộ nghèo nên tín dụng cho hộ nghèo được hiểu như là cho vay hộ nghèo. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về một số khái niệm về nghèo, sự cần thiết của nguồn vốn tín dụng đối với hộ nghèo, đặc điểm cho vay hộ nghèo khác cho vay thông thường như thế nào?.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Tổng quan về cho vay hộ nghèo 1.1 Một số khái niệm về nghèo Khái niệm về nghèo Theo WHO, người nghèo là người có thu nhập hằng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capital incomme) của quốc gia. Một số quan điểm khác cho rằng nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân, nghèo không chỉ đơn thuần là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ, như giáo dục, văn hóa, thuốc men, không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà còn thiếu thể chế kinh tế thị trường hiệu quả, trong đó có các thị trường đất đai, vốn và lao động cũng như các thể chế Nhà nước được cải thiện có trách nhiệm giải trình và vận hành trong khuôn khổ pháp lý minh bạch cũng như một môi trường kinh doanh thuận lợi. Mức nghèo còn là tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá, đó là lòng tin và lòng tự trọng. Ở Việt Nam, Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 09/1993: “ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Khái niệm nghèo được xem xét ở hai góc độ nghèo • Thứ nhất là nghèo tuyệt đối Để có cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamar, cựu Giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 6 người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta” Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với USD thế giới để thoả mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 USD cho châu Mỹ La tinh và Carribean đến 4 USD cho những nước Đông Âu cho đến 14,4 USD cho những nước công nghiệp.
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã bốn lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2001-2005” theo đó những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000đ/người/năm), ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.000 đồng/người/năm), ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.000 đồng/người/năm) trở xuống là nghèo. Chuẩn nghèo ban hành năm 2005 được áp dụng cho giai đoạn 2006-2010.