CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Tổng quan về Ngân hàng Chính sách- xã hội và hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách- xã hội 1.1 Tổng quan về Ngân hàng Chính sách- xã hội 1.1 Khái niệm Ngân hàng Chính sách- xã hội Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thực hiện lộ trình gia nhập WTO đòi hỏi hệ thống tài chính tín dụng Việt Nam phải nhanh chóng cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo điều kiện cho các ngân hàng nhà nước vươn ra nắm giữ thị trường. Trước thực trạng nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dành cho các đối tượng chính sách xã hội đang do nhiều cơ quan hành chính nhà nước và ngân hàng thương mại thực hiện theo các kênh khác nhau dẫn đến nguồn nhân lực của nhà nước bị phân tán, cho vay chồng chéo, trùng lặp, thậm chí cản trở lẫn nhau. Vì vậy yêu cầu đặt ra là cần tập trung nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước dành cho các đối tượng chính sách xã hội vào một kênh duy nhất để thống nhất quản lý cho vay.
Để đáp ứng các yêu cầu trên, ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Cùng ngày Thủ tướng Chính phủ ký ban hành quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách- xã hội trên cơ sở tổ chức tại Ngân hàng phục vụ người nghèo. Ngân hàng Chính sách- xã hội viết tắt là (NH CSXH) là một tổ chức tín dụng của nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận được nhà nước cấp, giao vốn và đảm bảo khả năng thanh toán; huy động vốn có trả lãi hoặc tự nguyện không lấy lãi, vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả, vốn nhận ủy thác từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để ủy thác hoạc trực tiếp cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học Đại 4 học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các đối tượng cần vay vốn đẻ giải quyết việc làm… và các đối tượng chính sách khác. NH CSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước; thực hiên các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ, nghiệp vụ ngoại hối, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.
NH CSXH có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trên phạm vi cả nước, có mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch ở các địa phương.2 Đặc điểm, hoạt động cơ bản của Ngân hàng Chính sách- xã hội *Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách- xã hội Hoạt động của ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp NSNN nhưng vẫn mang tính chất kinh doanh. Đối tượng cho vay chủ yếu là những hộ nghèo,những gia đình thuộc diện chính sách và những đối tượng khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chế độ tài chính, chế độ tiền lương và phụ cấp của cán bộ, viên chức và việc trích lập, và sử dụng các quỹ của ngân hàng do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định. Người nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay với lãi suất ưu đãi để phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
*Những hoạt động chủ yếu của ngân hàng Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tầng lớp nhân dân, bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn. Tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo. Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ khác, vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước. 5 Được nhận các nguồn đóng góp tự nguyện không có lãi hoạc hoàn trả gốc của các cá nhân, tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng và các tổ chức chính trị- xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước.
Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng có nhu cầu. Thưc hiện các nghiệp vụ về thanh toán ngân quỹ: - Cung ứng các phương tiện thanh toán - Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước - Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt. Các dịch vụ khác theo quy định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Cho vay ngắn, trung và dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội.
Nhận làm dịch vụ ủy thác cho vay từ các tổ chức Quốc tế, Quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng ủy thác.2 Hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách- xã hội 1.1 Quan điểm về đói nghèo và nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Hội nghị giảm đói nghèo ở Châu Á- Thái Bình Dương tại Băng Cốc- Thái Lan tháng 9/1993 định nghĩa: “ Nghèo là tình trạng trong đó các nhu cầu thiết yếu của một bộ phận dân cư không được thỏa mãn, đó là những nhu cầu đã được xã hội thừa nhận, tùy thộc vào mức độ phát triển kinh tế- xã hội và các phong tục tập quán địa phương”. Theo chuẩn đói nghèo của thế giới được công bố trong một báo cáo ngày 27-08-2008, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa ra một phương pháp mới để đánh giá đói nghèo ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Chuẩn nghèo mới được gọi là chuẩn nghèo Châu Á, được ADB xác định là sống dưới mức 1,35USD/ngày. Ở Việt Nam hiện nay, chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 được nâng lên đáp ứng nhu cầu nâng ao cuộc sống của người nghèo và từng bước hội nhập vào khu vực, cụ thể khu vực nông thôn là 200.000 đồng/người/tháng và khu vực thành thị là 260.000 đồng/người/tháng.
Theo chuẩn nghèo mới năm 2012 cả nước có 6 khoảng hơn 2 triệu hộ nghèo. Theo bộ Lao động Thương binh và Xã hội đến năm 2013 nước ta đã giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống khoảng 3%. Theo chuẩn trên nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhưng chưa đủ sống và do đời sống khó khăn nên rất nhiều người vẫn muốn thuộc diện hộ nghèo để nhận được các khoản hỗ trợ như vay vốn ưu đãi từ ngân hàng. Dù theo cách đánh giá nào đi nữa thì bộ phận dân chúng nghèo khổ ở Việt Nam còn khá nhiều và có nhiều nguyên nhân khác nhau phải dựa trên nguyên nhân của từng hộ gia đình mà có những biện pháp hỗ trợ có hiệu quả nhất.
Chúng ta có thể xét một số nhóm nguyên nhân dẫn đến đói nghèo như sau: Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên; kinh tế-xã hội: Điều kiện tự nhiên khắc nhiệt nhất là những năm gần đây thời tiết của nước ta biến đổi khó lường đã ảnh hưởng to lớn đến hoạt động sản xuất của người dân đặc biệt là người nghèo. Hơn thế nữa với kết cấu hạ tầng giao thông thủy lợi còn thấp cũng đã gây ra không ít trở ngại cho người nghèo. Ngoài nhóm nguyên nhân khách quan trên còn kể đến nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo. Thiếu vốn sản xuất: Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến người dân rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn dẫn đến phải đi vay mượn với lãi suất cao.
Kết quả điều tra xã hội học năm 2010 về nguyên nhân đói nghèo cho thấy thiếu vốn chiếm khoảng 80-90% tổng số hộ được điều tra. Thiếu kinh nghiệm và thiếu kiến thức làm ăn: Do phương thức canh tác cổ truyền là sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp kết hợp với những khó khăn về địa hình làm cho người dân nghèo không thể nâng cao kiến thức, trình độ sản xuất kinh doanh dẫn đến năng suất thấp, không hiệu quả. Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người tới khó khăn đặc biệt là người dân nghèo… 1.2 Đặc điểm hộ nghèo Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước nghèo trên thế giới, tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn khá cao khoảng 12,5%. Nghèo đói tập trung ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.
Phần đông số người nghèo là nông dân với 7 tay nghề thấp, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn nhân lực trong sản xuất như vốn, công nghệ kỹ thuật, thị trường tiêu thụ. Những người dân nghèo thường khó có điều kiện chuyển đổi sang các nghành phi nông nghiệp đem lại thu nhập cao hơn và ổn định hơn. Ngoài ra người dân nghèo còn có đặc điểm tâm lý và nếp sống được thể hiện như: Người nghèo thường tự ti, rụt rè, ít tiếp xúc, phạm vi giao tiếp hẹp. Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng xản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề. Phong tục tập quán và sinh hoạt của người dân nghèo cũng tác động tới nhu cầu tín dụng. Người nghèo thường sử dụng vốn vào các nhu cầu nông nghiệp là chủ yếu hoặc là những nghành nghề buôn bán thủ công nhỏ. Do vậy nhu cầu về vốn mang tính thời vụ.3 Quy định chung về cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách- xã hội * Phương thức cho vay NH CSXH thực hiện cho vay qua Tổ TK&VV (được gọi là cho vay trực tiếp), cho vay qua các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị- xã hội (được gọi là cho vay gián tiếp).
*Cho vay trực tiếp: NH CSXH thực hiện phương thức cho vay trực tiếp từ ngân hàng đến các hộ nghèo thông qua các Tổ vay vốn mà chủ yếu ở đây là Tổ TK&VV. Bằng cách tập hợp các hộ gia đình nghèo có nhu cầu vay vốn được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các hộ vay vốn để sản xuất kinh doanh, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống, cũng như chịu trách nhiệm liên đới trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng. Quy trình cho vay hộ nghèo bằng phương thức này như sau: 8 Sơ đồ 2.