Chương 1, Hiến pháp 2013 quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị ở Việt Nam.
Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị Việt Nam không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống chính trị, có các tồ chức chính trị, các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội. Do vậy, hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã hội, mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với xã hội. Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị với xã hội chính là Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện trên các yếu tố: Đây là quy luật tồn tại của Đảng, là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền. Nhà nước là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân.
Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Thứ tư, sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc của hệ thống chính trị. Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp nhân dân. Các giai cấp, tầng lớp nhân dân được đại diện bởi các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị, đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Do vậy, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất giai cấp công nhân và tính dân tộc sâu sắc. Lịch sử nền chính trị Việt Nam là cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền và bắt đầu từ mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Các giai cấp, dân tộc đoàn kết trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, hợp tác để cùng phát triển. Sự tồn tại của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là thành viên quan trọng của hệ thống chính trị là yếu tố quan trọng tăng cường sự kết hợp giữa giai cấp và dân tộc.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự kết hợp giữa tính giai cấp và tính dân tộc được khẳng định trong bản chất của từng tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị.
Sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng. Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ, vừa cho thấy những khó khăn thách thức cần phải giải quyết, vừa đặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta khác với các hệ thống chính trị khác trên thế giới. Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm Từ năm 1945, sau khi xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, hệ thống chính trị nước ta đã được thiết lập từ trung ương đến địa phương.
Theo điều 110, Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đơn vị hành chính nước ta được chia làm 4 cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp xã, phường, thị trấn. Cơ sở ở đây là khái niệm để chỉ một cấp trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính của Nhà nước hiện hành ở nước ta, đó chính là xã, phường, thị trấn. “Cấp xã, phường, thị trấn là cấp cuối cùng, gần dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở” [50, tr. Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, đến tháng 12 năm 2015 ở nước ta có 11.162 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn.
Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Đó vừa là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người lao động, vừa là nơi diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng. Nói tới cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc sống của họ; nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng. Mỗi cơ sở là một cộng đồng xã hội, ở đó có các hoạt động kinh tế, văn hóa và các hoạt động chính trị - xã hội.
Cơ sở còn là nơi trực tiếp tuyên truyền, phổ biến và kiểm nghiệm sự đúng đắn, chính xác đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật và các giải pháp quản lý phát triển xã hội. Vì vậy, chính quyền cơ sở hoạt động có hiệu quả sẽ đảm bảo cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, tạo niềm tin trong nhân dân. Như vậy, có thể hiểu: “Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở” [53, tr. Đặc điểm của hệ thống chính trị cấp cơ sở Hệ thống chính trị cấp cơ sở là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó mang đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống.
Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì hệ thống chính trị cấp cơ sở còn có những đặc trưng riêng như sau: Thứ nhất, hệ thống chính trị cấp cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, song lại là cấp quan trọng, gần và sát dân nhất. Hệ thống chính trị nước ta được phân ra 4 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh (bao gồm các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương); cấp huyện (bao gồm các huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh); cấp xã (bao gồm các xã, phường, thị trấn). Như vậy, cấp xã là cấp thấp nhất, là cấp cuối cùng gần và sát dân nhất. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX ghi: “Các cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống.
Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [18, tr. Hệ thống chính trị ở cơ sở là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cuối cùng có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, hiệu quả ra sao lại phụ thuộc phần lớn ở cơ sở. Vì vậy, cần phải nhận thức rõ rằng cơ sở là cấp thấp nhất, nhưng không vì thế kém quan trọng nhất.
Ngược lại, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất. Thông qua cơ sở các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mới được cụ thể hóa vào trong đời sống của cộng đồng dân cư. Sự đúng, sai trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đoàn thể được thể hiện trực tiếp ở cơ sở, cả về phương thức thực thi lẫn sự phù hợp hay không phù hợp của đường lối với lợi ích của nhân dân. Vì vậy, khi thực hiện các chính sách trong cuộc sống quần chúng nhân dân sẽ phản ánh chân thực nhất mức độ phù hợp của đường lối chính sách; cấp đầu tiên nhận được sự phản ánh này chính là cơ sở - cấp được xem là gần dân nhất, mang tính nhân dân rõ rệt nhất.
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp cơ sở có bộ máy đơn giản nhất, cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất và có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít tính chuyên nghiệp nhất. Là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị nước ta, bộ máy của hệ thống chính trị cấp cơ sở đơn giản hơn so với hệ thống chính trị cấp trên và biên chế hưởng lương từ ngân sách ít nhất. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Hội đồng nhân dân cấp xã tối đa không quá 35 đại biểu (Điều 32), Ủy ban nhân dân cấp xã cũng chỉ có từ 3 đến 5 thành viên (Điều 34). Tổng số cán bộ chuyên trách và công chức trong hệ thống chính trị cấp xã không quá 25 người/xã (Điều 4, Nghị định sô 92/2009/NĐ-CP).
Số lượng thành viên Ban Chấp hành của Đảng bộ (hay chi bộ) và các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã cũng ít hơn nhiều so với cấp tỉnh, 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.