CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Lý thuyết về động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc Nguồn nhân lực là yếu tố hữu hình, có khả năng tạo ra lợi nhuận cho công ty. Để đạt được điều đó cần tạo ra một chiến lược hợp lí, đặc biệt quan tâm đến những yếu tố thỏa mãn người lao động: lương bổng, thăng tiến, mối quan hệ công sở… có khả năng tạo ra động lực cho người lao động.
Hiểu được tầm quan trọng của động lực lao động, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai nhằm tìm hiểu về các nhân tố góp phần tạo nên động lực trong công việc, mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu suất cho nhân viên. Mỗi hoạt động con người đều hướng vào mục đích nhất định. Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn nhu cầu, những đòi hỏi, mong muốn mà họ chưa có hoặc đã có nhưng chưa đủ. Sự thỏa mãn đó có thể là vật chất hay tinh thần.
Khi đảm nhiệm những vai trò khác nhau, người lao động sẽ nảy sinh những mục tiêu và nhu cầu khác nhau.Xét cho cùng, động lực xuất phát từ sự phấn đấu vươn lên của nhân viên trong tổ chức. Do đó, nhiệm vụ của các nhà quản trị là khơi nguồn động lực làm việc từ phía nhân viên để họ hăng say làm việc, không ngừng tiến bộ để có nhiều cống hiến cho công ty. Theo Robbins (1998), ông cho rằng sự sẵn lòng làm việc được phản ánh trong các hành động mang tính chất tự nguyện, hay tầm quan trọng của công việc đối với một người. Vì vậy, ý tưởng hợp nhất nhu cầu cá nhân và nhu cầu tổ chức có sức thuyết phục rất mạnh mẽ.
Điều này cho thấy, khi người lao động được tạo điều kiện thuận lợi để thoã mãn nhu cầu cá nhân, thì họ càng có nhiều động lực để tìm cách theo đuổi mục tiêu cá nhân và thông qua đó đạt được mục tiêu của tổ chức. Quan niệm của Bùi Anh Tuấn (2009) về động lực lao động của người lao động được dựa trên những nhân tố bên trong người lao động kích thích họ làm việc. Khi các nhân tố này được thoả mãn, họ sẽ làm việc đạt hiệu quả cao và được biểu hiện ra bên ngoài bằng sự say mê, nỗ lực làm việc. 123doc 7 Khi một mục tiêu, kết quả được xác định rõ ràng người lao động sẽ cố gắng, nỗ lực để hướng tới một cách tự nguyện, đó là quan điểm về động lực của Nguyễn Ngọc Quân (2007).
Thực tế, nếu bị cưỡng ép làm việc hoặc tham gia với tinh thần nhàm chán chắc chắn sẽ không mang lại hiệu suất cao, hay nói cách khác động lực lao động xuất phát từ sự tự giác. Vì vậy, cấp trên phải khéo léo đưa ra những chiến lược nhằm khích thích sự tự nguyện nơi nhân viên để công việc được thực hiện kịp theo tiến độ đã định trước, chậm chí còn vượt xa. Như vậy, tác giả đúc kết định nghĩa về động lực như sau: Động lực làm việc là nội tố thúc đẩy người lao động làm việc trong môi trường lao việc lí tưởng để nâng cao hiệu quả công việc.Động lực lao động có động cơ xuất phát từ sự tự nguyện, nói cách khác, đó là đòn bẩy thúc đẩy nhân viên theo đuổi để chinh phục một mục tiêu cụ thể đã định trước nào đó. Vai trò của động lực làm việc Hành vi có động lực của nhân viên là sự đúc kết cuối cùng bởi các nhân tố bị chi phối bởi nó, mà các nhân tố thuộc về tổ chức đóng vai trò quan trọng.
Ngày nay, nguồn nhân lực là yếu tố chủ chốt có vai trò quan trọng trong công ty, sự thành công của công ty phần lớn được quyết định bởi yếu tố này, hàng loạt công trình nghiên cứu về phương pháp thúc đẩy động lực làm việc càng khẳng định nên sự quan trọng của yếu tố này, nó khiến người lao động định hướng được mục tiêu vì lợi ích bản thân mà nỗ lực làm việc không ngừng nghỉ để thụ hưởng được những lợi ích đó, đồng thời mang lại giá trị cho cho công ty. Tạo động lực mang lại lợi ích cho người lao động, cho doanh nghiệp và xã hội được cụ thể hóa bởi những quyền lợi sau: ❖ Đối với bản thân người lao động Đẩy mạnh hiệu suất lao động trên một đơn vị lao động là hệ quả tiên quyết khi có động lực lao động. Do người lao động sẽ cảm thấy thích thú trước công việc và làm việc hết mình, dẫn đến kết quả công việc hoàn thành với chất lượng được nâng cao. Hiệu suất lao động được cải thiện dẫn đến hệ quả thu nhập của nhân viên cũng tỉ lệ thuận tăng so với ban đầu.
123doc 8 Phát huy được tính sáng tạo là điểm mạnh chắc chắn mang lại nhiều kết quả tích cực khi nhân viên tự giác và an tâm làm một công việc nào đó. Mặt khác, khi đã bị thu hút bởi sự mới mẻ và hấp dẫn trong công việc sẽ nảy sinh tâm lí muốn gắn kết với tổ chức đang cùng cộng tác với mình, sự gắn bó đó cũng tự khắc ngày càng tăng. Thêm một lợi ích nữa đối với người lao động đó bất kì công sức nào được bỏ ra người lao động cũng mong gặt hái lại những thành quả tương xứng và hơn thế. Do đó, khi tiến độ công việc khả thi nhân viên sẽ cảm thấy họ cần thiết cho tổ chức và từ đó tiếp tục nỗ lực cống hiến nhiều hơn nữa.
❖ Đối với tổ chức Đối với tổ chức, hành vi tạo động lực thúc đẩy nguồn nhân lực trong tổ chức được sử dụng tối ưu hóa. Điều này có nghĩa, các khả năng của người lao động có thể được khai thác triệt để và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Không những thế, tài sản của công ty đó là đội ngũ lao động có chuyên môn cao, có chuyên môn cao, trung thành với tổ chức, có khả năng chiêu mộ và giữ chân người tài cho công ty. Song song đó, động lực còn tạo ra môi trường làm việc văn minh, thân thiện, góp phần hoàn thiện vẻ đẹp cho bộ mặt của tổ chức, công ty.
❖ Đối với xã hội Động lực làm việc thúc đẩy nhân viên thực hiện được nguyện vọng bản thân, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần, góp phần xây dựng xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ. Chỉ số hạnh phúc của xã hội cũng vì thế mà được nâng cao do đáp ứng được nhu cầu của các cá thể cấu thành. Động lực lao động làm xã hội ngày càng tốt đẹp hơn do trực tiếp nhận được đóng góp của người lao động và doanh nghiệp. Các lý thuyết về động viên nhân viên Muốn thành công doanh nghiệp phải sở hữu những nhân viên luôn tích cực và sáng tạo trong công việc.
Nhưng không phải người lao động nào cũng đạt được mức năng suất lao động tốt nhất. Một nhân việc được tạo động lực sẽ nỗ lực làm việc hơn, đạt năng suất lao động tốt hơn. Vì vậy vấn đề tạo động lực lao động đã được 123doc 9 rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu: Abraham Maslow (1943) với thuyết thang bậc nhu cầu, Frederick Herzberg (1959) với thuyết hai nhân tố, Clayton Alderfer (1969) với thuyết ERG, David McClelland (1985) với Thuyết nhu cầu đạt được, Victor Vroom (1964) với thuyết kỳ vọng, J. Stacy Adams (1963) với thuyết công bằng.
Tuy mỗi lý thuyết tiếp cận nhu cầu bằng các quan điểm khác nhau tương đối nhưng tất cả đều đi đến một kết luận rằng việc nâng cao động lực làm việc đối với người lao động sẽ nâng cao năng suất lao động, đảm bảo mục tiêu quản trị và đạt những thành tích tốt. Thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Nhu cầu được Abraham Maslow định nghĩa như là sự thiếu hụt về sinh lý hoặc tâm lý mà con người cảm thấy cần phải được thỏa mãn, điều này sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của họ đối với công việc. Vào năm 1943, ông đã phát triển mô hình hệ thống cấp bậc nhu cầu và lý thuyết này hiện tại vẫn có giá trị trong việc tìm hiểu động lực của nhân viên, đào tạo quản lý và phát triển cá nhân. Ý tưởng của Maslow xoay quanh các cấp bậc nhu cầu liên quan đến trách nhiệm của người sử dụng lao động phải cung cấp môi trường làm việc phù hợp, khuyến khích và cho phép nhân viên thể hiện các tiềm năng của họ.
Theo ông, nhu cầu của con người có năm loại và thể hiện ở hai cấp bậc thấp và cao. Con người sẽ hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đang thiếu hụt và khi được thỏa mãn nhu cầu ở một bậc nào đó, con người sẽ mong muốn vươn lên để thoả mãn nhu cầu ở bậc cao hơn. Các nhu cầu đó là: - Nhu cầu sinh học là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất để đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, ngủ, các nhu cầu làm con người thoải mái; - Nhu cầu về an toàn là nhu cầu được làm việc trong môi trường đảm bảo về an ninh, sức khỏe và ổn định trong đời sống; - Nhu cầu xã hội là nhu cầu được thương yêu, được chấp nhận trong xã hội, giao tiếp, chia sẻ hay mong muốn tham gia vào một tổ chức; - Nhu cầu được tôn trọng là mong muốn được tôn trọng và công nhận từ người khác; 123doc 10 - Nhu cầu muốn tự thể hiện là nhu cầu cao nhất trong thang bậc nhu cầu, nhu cầu cho sự hoàn thiện, phát triển toàn diện cả về thể lực và trí tuệ. Những yếu tố thoả mãn nhu cầu cá nhân theo Maslow Các loại nhu cầu Những yếu tố làm thỏa mãn Bản chất công việc thay đổi và thách thức Nhu cầu tự thể hiện Được tham gia trong việc ra quyết định Nhu cầu Tính chất công việc linh hoạt và độc lập bậc cao Công việc mang trách nhiệm quan trọng Nhu cầu được tôn trọng Sự thăng tiến rõ ràng Thừa nhận và khen thưởng từ người lãnh đạo Đồng nghiệp thân thiện Nhu cầu xã hội Tương tác với khách hàng Người giám sát dễ chịu Môi trường làm việc an toàn Nhu cầu Nhu cầu an toàn Công việc an toàn bậc thấp Lương và thưởng phù hợp Thời gian làm việc hợp lý, điều độ Nhu cầu sinh lý Môi trường làm việc tiện nghi vật chất Có thời gian nghỉ ngơi, hồi phục sau làm việc (Nguồn: Nguyễn Hùng Phong và cộng sự, 2015) Dựa trên lý thuyết này, những nhà quản trị phải thông hiểu nhu cầu của người lao động và giúp họ thỏa mãn những nhu cầu quan trọng tại nơi làm việc.