chương I của Nghị định 45/2012/NĐ-CP đã được triển khai thực hiện trên địa bàn các địa phương có hiệu quả, cụ thể trong việc khuyến khích, thu hút đầu tư các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư các ngành công nghiệp vào các cụm công nghiệp tại các huyện cách xa khu trung tâm, nhưng gần vùng nguyên liệu, có nguồn lao động nông thôn dồi dào. Chính vì những điều kiện nêu trên cho thấy hoạt động khuyến công cần có sự liên kết chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể nhất là tổ chức Hội nông dân các cấp. Vì thông qua Hội nông dân sẽ tiếp cận các hộ sản xuất nông nghiệp có nhu cầu tư vấn việc áp dụng các công nghệ thiết bị phục vụ việc bảo quản, chế biến các sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch nhằm tăng giá trị sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao hơn khi bán sản phẩm nông nghiệp thô 10 không được chế biến. Đây chính là trọng tâm của hoạt động khuyến công mà các địa phương đang xây dựng lộ trình tuyên truyền, tư vấn và đồng hành với các đơn vị mạnh dạn ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất với phương châm “thành công và hiệu quả”.
Các chương trình khuyến công quốc gia và địa phương cụ thể như: - Chương trình đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề. - Chương trình hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật. - Chương trình hợp tác và phát triển các cụm, điểm công nghiệp. - Chương trình nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn.
- Các chương trình khác như: Xử lý chất thải trong chăn nuôi tạo nguồn năng lượng gas dùng chạy máy phát điện; Xây dựng mô hình xử lý nước thải trong quá trình sản xuất bún, bánh tráng… Các chương trình trên đã đem lại lợi ích không nhỏ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn và phù hợp với nhu cầu, khả năng tiếp nhận của đối tượng thụ hưởng. Theo đánh giá của đối tượng thụ hưởng và các đơn vị có liên quan có chung nhận xét hoạt động khuyến công có ý nghĩa thiết thực, nhằm hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn mở rộng đầu tư đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, tiến tới công nghiệp hóa – hiện đại hóa và phát triển bền vững. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình Hội nhập kinh tế quốc tế; với những mô hình được triển khai xây dựng đã giúp cho các cơ sở công nghiệp nông thôn mở rộng sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; tiết kiệm được nguồn năng lượng và cải thiện vấn đề ô nhiễm môi trường, hướng đến phát triển bền vững. Nước ta có nguồn lao động dồi dào, nhưng cũng là thách thức lớn về việc làm, an sinh xã hội.
Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm một số lượng lớn, số người thất nghiệp, thiếu việc làm thường xuyên và thu nhập thấp ở Việt Nam còn rất cao. Việc di dân từ nông thôn ra thành thị một mặt đẩy nhanh quá trình đô thị hoá nhưng mặt khác lại gây áp lực lớn cho các thành phố. Tình trạng nông dân từ 11 nông thôn ra thành thị có rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chủ yếu là thiếu việc làm tại chỗ. Thiếu việc làm có thu nhập để đảm bảo cuộc sống buộc lao động phải rời quê hương ra đô thị để kiếm việc.
Nông thôn Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn, sức ép của sự chuyển đổi theo quá trình phát triển chung của đất nước. Một lớp công nhân mới từ nông dân, tâm lý không sẵn sàng, năng lực chưa được chuẩn bị rời quê hương khi chưa được đào tạo nghề và có một công việc để phù hợp. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, giải pháp chỉ đạo tích cực thúc đẩy phát triển nội dung các hoạt động Khuyến công nhằm hỗ trợ, giúp đỡ các cơ sở công nghiệp nông thôn xác định hướng đi đúng, đầu tư hợp lý, có hiệu quả để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, các doanh nghiệp chủ động nguồn lao động đào tạo phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của mình. Mặt khác, thông qua chính sách của Khuyến công các cơ sở công nghiệp nông thôn sẽ được hỗ trợ để đầu tư thiết bị tiên tiến, đổi mới công nghệ, chủ động phát triển sản xuất đưa doanh nghiệp phát triển đi lên.
Qua đó, các làng nghề truyền thống được chú trọng phát triển, các nghề được nhân rộng không bị mai một, các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được giữ vững và phát triển nâng cao ở các vùng nông thôn còn khó khăn. Từ đó, có thể tạo thêm được nhiều việc làm cho các lao động phổ thông tại địa phương có thu nhập ổn định, đảm bảo cuộc sống. Đối tượng của dịch vụ khuyến công 1. Những ngành nghề được hưởng chính sách khuyến công Theo Nghị định 45/2012/NĐ-CP ngày 21/5/2012 của Chính phủ, hoạt động khuyến công là các chính sách khuyến khích, hỗ trợ tham gia phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn, áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp.
Cũng theo Nghị định này, đối tượng của hoạt động khuyến công là “Tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã. được gọi chung là cơ sở công nghiệp nông thôn”. Dù với quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, nhưng công nghiệp nông là một bộ phận không thể tách rời của nền công nghiệp nói chung. 12 - Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản và chế biến thực phẩm.
- Sản xuất hàng công nghiệp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, hàng thay thế hàng nhập khẩu. - Công nghiệp hoá chất phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Sản xuất vật liệu xây dựng theo công nghệ mới (vật liệu không nung), không ô nhiễm môi trường, sử dụng nguyên liệu tái tạo. - Sản xuất sản phẩm, phụ tùng; lắp ráp và sửa chữa máy móc, thiết bị, dụng cụ cơ khí, điện, điện tử - tin học.
Sản xuất, gia công chi tiết, bán thành phẩm và công nghiệp hỗ trợ. - Sản xuất hàng tiểu thủ công nghiệp. - Khai thác, chế biến khoáng sản tại những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật. - Áp dụng sản xuất sạch hơn trong các cơ sở sản xuất công nghiệp; xử lý ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn.
Đối tượng được Nhà nước hỗ trợ kinh phí khuyến công - Tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở công nghiệp nông thôn) tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm, bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp có tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm như quy định tại Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã. Tổ hợp tác thành lập và hoạt động theo Nghị định số 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Tổ hợp tác; Hộ kinh doanh theo quy định Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; Các cơ sở công nghiệp nông thôn có trụ sở đăng ký kinh doanh tại các phường thuộc thành phố loại 1 khi trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 13 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm thuộc đối tượng được hưởng chính sách khuyến công. - Các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn không giới hạn về quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân hàng năm và địa bàn đầu tư sản xuất. Đối tượng thực hiện dịch vụ khuyến công - Chương trình khuyến công quốc gia + Cục Công thương địa phương trực thuộc Bộ Công Thương; + Một số Trung tâm Khuyến công quốc gia ở các vùng, trực thuộc Cục Công thương địa phương.
- Chương trình khuyến công địa phương + Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; + Phòng kinh tế, Phòng kinh tế và Hạ tầng trực thuộc UBND các huyện, thành phố - Đối tượng khác: Là các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật; có đủ năng lực và có chức năng, nhiệm vụ phù hợp với nội dung hoạt động khuyến công. Các tổ chức dịch vụ khuyến công được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, được tham gia vào các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến công do cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động khuyến công tổ chức. Vai trò của dịch vụ khuyến công trong phát triển công nghiệp nông thôn Việc thực hiện các nội dung của hoạt động khuyến công giữ vị trí và vai trò quyết định trong phát triển công nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn góp phần giảm bớt sự chệnh lệch về lao động giữa thành thị và nông thôn trong quá trình đô thị hoá. Thông qua dịch vụ khuyến công sẽ giúp cho khoảng cách giữa Nhà nước và cơ sở công nghiệp nông thôn gần nhau hơn trong việc hỗ trợ các nguồn lực để động viên, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn đầu tư sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nhằm mục đích đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trên cơ sở phát huy các lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào ở khu vực nông thôn.