CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 1.KHÁI NIỆM VỀ MARKETING 1. Định nghĩa Marketing Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA,1985): “ Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện những ý niệm, định giá, khuếch trương và phân phối những ý tưởng, sản phẩm và dịch vụ nhằm tạo ra những trao đổi với mục đích thỏa mãn mục tiêu của các cá nhân và tổ chức”. Theo AMA (2007): “Marketing là toàn bộ tiến trình sáng tạo, truyền thông và phân phối giá trị đến khách hàng và quản trị những mối quan hệ với khách hàng theo hướng có lợi cho tổ chức và cổ đông” Theo Philip Kotler (2008): “Marketing là tiến trình doanh nghiệp tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mạnh mẽ những mối quan hệ với khách hàng nhằm đạt được giá trị từ những phản ứng của khách hàng” Từ các định nghĩa trên ta có thể thấy Marketing: - Là tiến trình quản trị - Tạo ra giá trị nhằm thỏa mãn khách hàng , không chỉ quan tâm đến đặc trưng sản phẩm mà còn chú ý những lợi ích và trải nghiệm do sản phẩm tạo ra cho khách hàng - Xây dựng / quản trị mối quan hệ với khách hàng Từ đó duy trì và gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.Ý nghĩa Marketing Hoạt động Marketing được thực hiện nhằm tạo giá trị cho khách hàng và xây dựng, duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Bước đầu tiên trong hoạt động Marketing là tập trung vào những công việc nhằm hiểu khách hàng, tạo ra giá trị cho khách hàng và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng.
Từ đó doanh nghiệp thu được lợi nhuận trong dài hạn (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014). 11 Việc lựa chọn các thị trường mục tiêu cũng như tìm kiếm, duy trì phát triển nguồn khách hàng thông qua khâu tạo dựng, tương tác và mang lại giá trị vượt trội cho khách hàng là một nghệ thuật và khoa học (Philip Kotler & Kevin Lane Keller, 2013). Hoạt động Marketing còn giúp doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh, đối phó tốt các thách thức cạnh tranh, bảo đảm vị thế cạnh tranh trên thị trường. Vai trò của Marketing trong doanh nghiệp Theo Philip Kotler & Kevin Lane Keller, 2013.
Marketing có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, cụ thể : - Marketing đóng vai trò chủ chốt trong việc để doanh nghiệp tồn tại trong môi trường kinh doanh khốc liệt và trở nên thịnh vượng của doanh nghiệp. Tài chính, sản xuất, và các phòng ban chức năng khác sẽ không thực sự có ý nghĩa nếu thiếu nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ. - Marketing giúp tạo ra nhu cầu cho sản phẩm và dịch vụ, các sản phẩm dịch vụ này sẽ tạo ra việc làm và đóng góp vào doanh thu. Đồng thời nó sẽ tạo cảm hứng cho việc gia tăng các sản phẩm hiện hữu thông qua nỗ lực sáng tạo để nâng cao vị thế của các sản phẩm đó trên thị trường.
Hoạt động Marketing thành công còn cho phép doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội. - Marketing đóng vai trò trong việc xây dựng một thương hiệu mạnh cùng với một cơ sở khách hàng trung thành- một tài sản vô hình góp phần tạo nên giá trị cho doanh nghiệp. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 1.Nghiên cứu thị trường 1. Thị trường (Markets) – là 1 nhóm khách hàng tiềm năng với nhu cầu giống nhau, sẵn sàng trao đổi cái gì đó có giá trị về hàng hóa hoặc/và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của họ (Bài giảng về Quản trị Marketing, Hồ Đức Hùng, 2010).
* Phân loại thị trường: 12 Để hiểu rõ hơn về từng loại thị trường, doanh nghiệp phải tiến hành phân loại nó, việc phân loại này có thể được thực hiện dựa trên các tiêu thức sau (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014): - Theo điều kiện địa lý: có thể chia thị trường ra từng vùng, miền như: miền Bắc, miền Trung, miền Nam hoặc thị trường trong và ngoài nước. Trong đó người ta phân tích và thống kê tất cả các đặc điểm nổi bật của từng miền để làm cơ sở định hướng các chiến lược Marketing của doanh nghiệp. - Theo sản phẩm: thị trường được chia thành thị trường hàng tiêu dùng, thị trường hàng tư liệu sản xuất, thị trường dịch vụ…. - Theo sự cạnh tranh trên thị trường: thị trường được chia thành thị trường độc quyền , thị trường cạnh tranh hoàn hảo - Theo khả năng tiêu thụ sản phẩm: thị trường được chia thành thị trường tiềm năng, thị trường hiện tại, thị trường hàng thay thế, thị trường hàng bổ sung… - Theo vai trò quyết định của người mua và người bán trên thị trường: thị trường được chia thành thị trường người mua, thị trường người bán.
Phân khúc thị trường: Phân khúc thị trường là chia thị trường không đồng nhất thành các khúc thị trường đồng nhất để làm nổi rõ lên sự khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014) * Một số mức độ của việc phân khúc thị trường (Bài giảng về Quản trị Marketing, Hồ Đức Hùng, 2010): Khi tiến hành việc phân khúc, chúng ta sẽ hình dung ra một số nhóm khách hàng cụ thể trong từng thị trường đã phân khúc. Các phân khúc phải khác nhau. Càng nhiều khác biệt giữa các nhóm khách hàng, động tác phân khúc càng thành công. Lúc đó mỗi nhóm khách hàng sẽ có đáp ứng về Marketing mix của doanh nghiệp hoàn toàn giống nhau hoặc gần giống nhau.
13 - Marketing phân khúc: Ứng với mỗi phân khúc, khách hàng có những khác biệt về nhu cầu để đưa ra giải pháp Marketing thích hợp. Doanh nghiệp càng tập trung khai thác vào phân khúc thì càng né tránh được cạnh tranh. - Marketing nép góc: Phân khúc nhỏ, qui mô thị trường không lớn nhưng có nhu cầu cụ thể chỉ có một nhóm khách hàng đòi hỏi và chấp nhận giá cao. Đây là thị trường ít đối thủ, doanh nghiệp nhỏ có lợi thế.
- Marketing vi mô (Micro Marketing): Doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu từng cá nhân khách hàng. Sản phẩm phù hợp với số đo,nhu cầu, yêu cầu của từng cá nhân. * Cơ sở phân khúc thị trường: Là một tập hợp các biến (đặc tính) được sử dụng để phân nhóm khách hàng thành các nhóm có tính đồng nhất cao. Người làm Marketing phải nghiên cứu, thử nghiệm để đưa ra các biến phân khúc thích hợp.
Có thể sử dụng một biến hoặc nhiều biến để phân khúc thị trường. Các biến thường được sử dụng như địa lý, nhân khẩu học, tâm lý học, hành vi (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014). * Đặc điểm của phân khúc thị trường có hiệu quả: Có nhiều cách thức hay phương pháp để phân khúc thị trường, tuy nhiên không phải kiểu phân khúc nào cũng hiệu quả. Vì vậy, khi phân khúc thị trường, các khúc thị trường đó cần phải đạt các yêu cầu sau (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014): - Hấp dẫn: Các khúc thị trường phải có qui mô đủ lớn để mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hoặc thương hiệu.
- Đo lường được: qui mô, mãi lực , hiệu quả - Tiếp cận được: Các khúc thị trường phải vươn tới được và phục vụ được bằng hệ thống kênh phân phối và các hoạt động truyền thông. - Khả thi: Công ty phải có đủ khả năng về nhân lực, tài chính, kỹ thuật để đáp ứng được đòi hỏi của phân khúc đã lựa chọn. Lựa chọn thị trường mục tiêu: Sau khi phân khúc thị trường, chúng ta đánh giá cụ thể mức độ hấp dẫn từng phân khúc. Trên cơ sở đánh giá phân tích, căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp để 14 chọn 1, một số hoặc nhiều thị trường mục tiêu để khai thác (Bài giảng về Quản trị Marketing, Hồ Đức Hùng, 2010): - 3 vấn đề cần chú ý khi lựa chọn thị trường mục tiêu: + Tiềm năng thị trường này về lâu dài (mức tăng trưởng) + Tính toán 5 áp lực cạnh tranh + Rào cản gia nhập/ ra khỏi ngành, lĩnh vực: vốn, qui mô đầu tư, pháp lý, thuế… - Sau khi lựa chọn thị trường mục tiêu, phát triển chiến lược nhắm tới thị trường mục tiêu.
Có 3 chiến lược phát triển định hướng vào thị trường: + Chiến lược “Một thị trường mục tiêu” (Single target market approach): Phân khúc thị trường và lựa chọn một trong những phân khúc và phân khúc đó được xem như là thị trường mục tiêu của công ty. + Chiến lược “Đa thị trường mục tiêu” (Multiple target market approach): Phân khúc thị trường và lựa chọn hai hoặc một số phân khúc và bố trí từng chương trình marketing hỗn hợp cho từng phân khúc tương ứng. + Chiến lược “Kết hợp thị trường mục tiêu” (Combined target market approach): Kết hợp 2 hoặc 1 số “tiểu phân khúc” (Submarkets) thành 1 thị trường mục tiêu lớn hơn - tạo cơ sở cho 1 chương trình marketing hỗn hợp. Định vị thị trường: “Định vị thị trường là thiết kế một sản phẩm có những đặc tính khác biệt so với sản phẩm hoặc dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và tạo cho nó một hình ảnh riêng đối với khách hàng” (Philip Kotler và Kevin Lane Keller, 2006) Hai nội dung phát triển định vị thị trường bao gồm xác định vấn đề khác biệt hóa và mô tả rõ định vị sản phẩm trong đầu óc khách hàng (Bài giảng về Quản trị Marketing, Hồ Đức Hùng, 2010): 15 - Xác định vấn đề khác biệt hóa: Định vị sản phẩm dựa vào khác biệt hóa.
Sản phẩm được định vị phải nằm trong đầu khách hàng như thế nào. Nguyên tắc: càng ít khác biệt càng dễ nhận dạng để khẳng định vị trí. + Các tiêu chuẩn của khác biệt: Khác biệt phải hết sức quan trọng, phải độc đáo, phải hơn hẳn, phải dễ dàng tiếp thu chấp nhận, phải tiên phong, phải phù hợp với khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi lớn. + Các phương diện có thể làm khác biệt hóa: Khác biệt về sản phẩm Khác biệt về dịch vụ (dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, chăm sóc khách hàng) Khác biệt về con người: đội ngũ bán hàng, đội ngũ kỹ sư.
Khác biệt về hình ảnh - Mô tả rõ định vị sản phẩm trong đầu óc khách hàng: Yếu tố 4P (sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến) phải được phối hợp phù hợp với đặc điểm thị trường mục tiêu để mô tả rõ hơn định vị sản phẩm trong đầu óc khách hàng. Các thành phần hoạt động của Marketing 1.: Khái niệm: Sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đưa vào một thị trường để đạt sự chú ý, sự chấp nhận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thỏa mãn được một ước muốn hay một nhu cầu (Đinh Tiến Minh và cộng sự, 2014).