CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY PHỤC VỤ TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Thuật ngữ ngân hàng có từ rất lâu, trước khi nền sản xuất hàng hóa ra đời. Tuy nhiên ngay từ đầu nó không mang cái tên Ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại. Ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng thương mại được hiểu là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính; Ở Pháp, ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Theo khoản 2, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 có nêu: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác xã” [16] Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích nội dung của các định nghĩa đó đều có chung một tính chất.
Ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về Ngân hàng thương mại như sau: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Khái quát về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Trên cơ sở tiếp cận chức năng hoạt động của NHTM thì tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và 5 các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên đi vay có trách nhiêm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động cấp tín dụng giữ vai trò quan trọng đối với bản thân ngân hàng, bởi thu nhập từ hoạt động này không những chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của ngân hàng mà còn đảm bảo cho việc trả lãi các nguồn vốn huy động được từ dân cư và các tổ chức kinh tế.
Theo Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 đã định nghĩa về cho vay của ngân hàng là: “hình thức cấp tín dụng, theo đó bên vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [16] 1. Các hình thức cho vay của NHTM Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau. Để quản lý và sử dụng vốn hiệu quả phải thực hiện việc phân loại cho vay. Trên thực tế, người ta thường hay phân loại cho vay theo một số tiêu thức chính sau: 1.
Theo tài sản bảo đảm: - Cho vay có tài sản bảo đảm: đây là hình thức cho vay có đảm bảo đối với tài sản có thể được đảm bảo theo hình thức thế chấp hoặc cầm cố. Các tài sản đảm bảo thường là giấy tờ có giá, hàng hóa trong kho, nhà cửa, thiết bị…. Ngân hàng chỉ chấp nhận những tài sản hợp pháp, có khả năng bán được làm tài sản đảm bảo. - Cho vay không có tài sản bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba mà chỉ dựa vào tín chấp 6 1.
Theo thời gian: - Cho vay ngắn hạn: “ là loại cho vay có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân” [13, tr 347] - Cho vay trung hạn: “ có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh” [13, tr 348] - Cho vay dài hạn: “ là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Các khoản vay dài hạn được dùng đáp ứng các nhu cầu mang tính chất dài hạn như: xây dựng nhà xưởng, xí nghiệp, mua sắm các trang thiết bị” [13, tr 348] 1. Theo phương pháp hoàn trả - Cho vay có thời hạn cụ thể: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể và được xác định trong hợp đồng. - Cho vay không có thời hạn cụ thể: là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu người vay hoặc người vay tự nguyện trả nợ bất kỳ thời điểm nào.
Thời điểm trả nợ phải được báo trước một thời gian hợp lý và thời gian này có thể được qui định trong hợp đồng. Theo đối tượng - Cho vay doanh nghiệp thường để tài trợ vốn cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày, bổ sung vốn lưu động, tài trợ thương mại, đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, sản xuất, mua sắm tài sản lâu bền, đầu tư dự án mới. - Cho vay cá nhân, hộ gia đình thường để tài trợ cho mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng, trong đó, cho vay phục vụ tiêu dùng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn và với nhiều sản phẩm tín dụng hơn do nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trưởng nhanh và đa dạng. Theo các hình thức khác - Phân loại theo mục đích vay: cho vay phục vụ tiêu dùng, cho vay đầu tư dài hạn, cho vay bổ sung vốn kinh doanh, tài trợ thương mại… - Phân loại theo phương thức cho vay: Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng… - Phân loại theo ngành nghề kinh tế: cho vay trong các ngành thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… 1.
Cho vay phục vụ tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1. Nguyên nhân hình thành hoạt động cho vay phục vụ tiêu dùng Nhu cầu của con người không bao giờ hết, từ ăn uống, nghỉ ngơi đến vui chơi giải trí… Tuy nhiên, để nhu cầu được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được bởi nó còn phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng đó là khả năng thanh toán. Vấn đề quan trọng là tìm ra cách thức để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán. Cách thứ nhất là mua bán chịu và cách thứ hai là vay tiền để mua hàng.
Tuy nhiên cách thứ nhất không phổ biến và gặp nhiều rủi ro. Cách thứ hai thì cần có tổ chức thứ ba hỗ trợ cả người mua và người bán để họ đảm bảo khả năng thanh toán và đảm bảo nhu cầu tiêu dùng thực sự của họ. Tổ chức thứ ba đảm nhiệm tốt nhiệm vụ này chính là các Ngân hàng thương mại. Như vậy, có thể thấy cho vay phục vụ tiêu dùng ra đời chính từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Khái niệm cho vay phục vụ tiêu dùng Cho vay phục vụ tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân, hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định với những thỏa thuận mà hai bên ký kết (về số tiền cho vay, thời gian cho vay, lãi suất…) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hóa và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, đáp ứng tốt nhu cầu chi tiêu của họ. Những khoản cho vay như vậy được dành 8 cho các mục đích tiêu dùng khác nhau như: mua nhà, xây sửa nhà, mua xe ô tô, xe máy, mua sắm đồ dùng cho cá nhân, gia đình, trang trải các dịch vụ y tế, giáo dục, du lịch… Ngày nay, cho vay phục vụ tiêu dùng trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các quốc gia phát triển trong khi ở các quốc gia đang phát triển thì mảng thị trường này vẫn còn ở mức tiềm năng. Đặc điểm của cho vay phục vụ tiêu dùng Cho vay phục vụ tiêu dùng là một trong những hình thức cho vay mang tính rủi ro cao. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng thường được thẩm định kỹ càng và giám sát chặt chẽ, nhiều ngân hàng còn có các bộ phận chuyên theo dõi tình hình trả nợ của khách hàng vay tiêu dùng, do đó làm cho chi phí của sản phẩm này bị tăng cao.
Cho vay phục vụ tiêu dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung như: khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình; mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng, thâm hụt tài chính tạm thời; giá trị khoản vay thường nhỏ; thời hạn vay dài; nguồn trả nợ chủ yếu từ lương; độ rủi ro cao hơn do khó thẩm định chính xác nguồn thông tin của khách hàng vay vốn… 1. Vai trò cho vay phục vụ tiêu dùng * Đối với khách hàng Người tiêu dùng có thể hưởng lợi ích trực tiếp từ các dịch vụ ngân hàng, cho vay phục vụ tiêu dùng là công cụ giúp cho khách hàng có thể thỏa mãn nhu cầu trong điều kiện hiện tại mà khả năng tài chính chưa đủ nhưng các nguồn thu nhập trong tương lai có thể trả được các khoản nợ này. Tuy nhiên người tiêu dùng cần tính toán và cân nhắc để khoản vay không ảnh hưởng đến tình hình tài chính sau này. * Đối với ngân hàng Làm gia tăng khách hàng, mở rộng quan hệ giao dịch, đem lại thu nhập ổn định và bền vững cho ngân hàng.
9 * Đối với nền kinh tế: Góp phần làm tăng tổng cầu xã hội, kích thích tiêu dùng, tạo nên sự sôi động của nền kinh tế qua đó kích thích sản xuất phát triển, tạo nguồn vốn cho khu vực sản xuất trong nước, tăng GDP cho nền kinh tế.