CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1.1 Khái quát về tổ chức tài chính vi mô 1.1 Khái niệm và đặc điểm 1.1 Khái niệm Tài chính vi mô (TCVM), theo định nghĩa của Ngân hàng phát triển châu Á (2011), là việc cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ. Tại Việt Nam, thuật ngữ TCVM được đề cập tương đối phổ biến, nhưng được hiểu theo một khái niệm khác tương đương, đó là tài chính quy mô nhỏ. Theo định nghĩa tại Nghị định 28/2005/NĐ-CP thì “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung LV quản trị kinh doanh cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”. Tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM), theo Joanna Ledgerwood (1999), là những chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính với quy mô rất nhỏ, dù là chính thức hay phi chính thức.
Những chủ thể này bao gồm các ngân hàng, hợp tác xã tài chính, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs). Bảng dưới đây sẽ liệt kê và phân loại các đơn vị cung cấp dịch vụ TCVM theo nhóm: Bảng 1.1: Các nhà cung cấp dịch vụ tài chính vi mô Khu vực chính thức Khu vực bán chính Khu vực phi chính thức thức - Ngân hàng thương mại, - Liên minh tín dụng, - Các đơn vị, cá nhân, chính sách, đầu tư và phát hợp tác xã cho vay và nhóm dân cho vay triển tiết kiệm. thương mại - Ngân hàng phục vụ nông - Hiệp hội tín dụng - Các thương gia, chủ thôn - Ngân hàng hợp tác xã hiệu 7 - Ngân hàng theo mô hình - Các dự án phát triển, tổ - Quỹ tương trợ, nhóm/tổ hợp tác xã chức phi chính phủ tiết kiệm. - Tổ chức phi ngân hàng (NGO) cung cấp TCVM - Công ty tài chính, đầu khác - Các quỹ tiết kiệm tạo tư phi chính thức - Công ty tài chính việc làm - Các hiệp hội tiết kiệm, - Ngân hàng tiết kiệm - Các nhóm tương hỗ hiệp hội tín dụng - Công ty bảo hiểm - TCTCVM được cấp phép theo Luật tổ chức tín dụng Nguồn: Ledgerwood, 1998, tr.13 Các đơn vị thuộc khu vực chính thức được chính phủ ủy quyền và phải tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng.
Các đơn vị bán chính thức tuy không phải tuân theo các quy định của hoạt động ngân hàng những lại do các cơ quan chính phủ cấp phép hoạt động và chịu sự giám sát của các cơ quan này, còn LV quản trị kinh doanh các trung gian tài chính phi chính thức hoạt động ngoài quy định và sự kiểm soát của chính phủ. TCTCVM theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành là “là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” (Luật các Tổ chức tín dụng, 2010). Như vậy, TCTCVM là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhằm cung cấp các dịch vụ TCVM, bao gồm: tín dụng vi mô, nhận tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện và thực hiện một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp (Chính phủ, 2007). Quan điểm này phù hợp với xu hướng phát triển của hoạt động TCVM trên thế giới nhằm đảm bảo tính bền vững, phát huy được hết những ưu điểm nổi bật của hoạt động TCVM trên cả khía cạnh thực hiện xã hội và khía cạnh kinh doanh.
Căn cứ vào hình thức pháp lý, TCVM Việt Nam chia làm ba mô hình: TCTCVM chính thức, TCTCVM bán chính thức và TCTCVM không chính thức. 8 Khu vực chính thức Khu vực bán chính Khu vực phi chính thức thức - Ngân hàng thương mại: - Các dự án phát triển - Các đơn vị, cá nhân, Ngân hàng tiết kiệm bưu của các tổ chức phi chính nhóm dân cho vay điện Liên Việt, ngân hàng phủ (NGO) thương mại Nông nghiệp và phát triển - Quỹ xã hội các cấp của - Cửa hiệu cầm đồ, thế nông thôn Việt Nam các NGO chấp - Ngân hàng chính sách xã - Tỏ chức chính trị xã - Nhóm cộng đồng: hội hội: hội phụ nữ, hội nông tương hỗ, nhóm tiết kiệm - Quỹ tín dụng nhân dân dân, liên đoàn lao động, tín dụng, nhóm kinh - TCTCVM được cấp phép đoàn thanh niên. theo Luật tổ chức tín dụng - Tổ chức dân sự xã hội - Cho vay, chuyển tiền tư - Công ty bảo hiểm - Liên minh hợp tác xã nhân - Cho vay bạn bè, anh LVHìnhquản 1.1: Các đơntrị vị cungkinh cấp dịch vụdoanh em TCVM ở Việt Nam 1.2 Đặc điểm Các TCTCVM có thể khác nhau về quy mô và mục đích hoạt động, nhưng đều có đặc trưng như sau: nhóm khách hàng mục tiêu gồm cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ; quy mô khoản vay và tiền gửi tương đối nhỏ; sử dụng cơ chế cho vay và thu hồi theo nhóm những người tương tự nhau, nhằm đảm bảo tỷ lệ hoàn trả cao; quy định lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng; yêu cầu tiết kiệm bắt buộc. Các TCTCVM của Việt Nam cũng như hoạt động TCVM ở Việt Nam có những đặc trưng sau đây (Dương Ngọc Linh, 2006): - Tập trung ở nông thôn hơn thành thị, với phụ nữ nghèo là đối tượng chính: Đại đa số khách hàng của các TCTCVM ở Việt Nam là phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn và các tổ chức này chỉ triển khai hoạt động tại một hoặc vài tỉnh với số lượng vài huyện và và chục xã.
Hơn nữa, các điểm chương trình thường rải rác, không tập trung. 9 - Phương pháp cho vay qua nhóm được sử dụng phổ biến: các chương trình TCVM không cho vay trực tiếp đến từng cá nhân mà thông qua các nhóm. Việc thành lập các nhóm theo nguyên tắc tự nguyện. Nhóm được TCTCVM trao quyền chủ động, ra quyết định đối với các vấn đề liên quan đến nhóm vay, đặc biệt là việc bình xét vốn vay.
- Món vay nhỏ, sử dụng chủ yếu cho mục đích sản xuất kinh doanh tạo thu nhập: mức vay ban đầu phổ biến nhất từ 1-3 triệu đồng trong thời gian dưới 12 tháng, sau đó các món vay có thể tăng dần theo các chu kỳ vay vốn. Theo cách này, người nghèo sẽ quen dần với việc sư dụng các món vay từ nhỏ đến lớn, tăng hiệu quả sử dụng vốn vay. Định hướng chính của các TCTCVM với khách hàng mới là sử dụng vốn vay vào mục đích tạo lập và phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tăng thu nhập mà không được dùng cho mục đích tiêu dùng. - Trả dần vốn: phương pháp trả nợ dần cà gốc và lãi là phương thức phù hợp với người nghèo, kỳ hạn trả thường là theo tuần hoặc theo tháng.
Với cơ chế này, LV quản trị kinh doanh tiền dùng để trả nợ không hoàn toàn từ nguồn thu trực tiếp do các hoạt động được đầu tư từ vốn vay mang lại mà người vay có thể kiếm từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm nông nghiệp (rau, thịt, cá,.), làm thuê, làm nghề phụ. - Tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc với người vay như là phương thức đảm bảo cho khoản vay: khác với các tổ chức tài chính khác hay Ngân hàng định mức khoản tiết kiệm nhỏ nhất từ 100.000đ, các TCTCVM huy động những món gửi tiết kiệm rất nhỏ, chỉ từ 5.000đ nhưng thường xuyên hàng tuần, hàng tháng với thủ tục gửi rất đơn giản. - Lãi suất tín dụng cao hơn lãi suất các ngân hàng do TCTCVM chủ yếu cho vay các khoản vay nhỏ. Vì thế chi phí hoạt động bị đội lên tính trên cùng một doanh số khi các ngân hàng cho vay những khoản vaylớn.
Ngoài ra, các TCTCVM thường cung cấp dịch vụ đến tận nơi nên chi phí cho tổ chức sẽ cao hơn nhưng khách hàng là người được hưởng lợi do chi phí của họ giảm và cơ hội tiếp cận dịch vụ tăng. Không những vậy, khách hàng của các TCTCVM chủ yếu là người nghèo, người có thu nhập thấp sống ở nông thôn, vùng sâu vùng xa nên tài sản đảm bảo rất hạn chế, 10 thậm chí là không có tài sản đảm bảo. Những lý do trên giải thích cho mức lãi suất cho vay trung bình trên thế giới là gần 30%.2: Đặc trưng của các TCTCVM so với các tổ chức tín dụng khác và lợi ích đối với khách hàng Chỉ tiêu TCTD khác TCTCVM Lợi ích đối với khách hàng TCVM Mục tiêu Chủ yếu vì mục tiêu Bền vững và mục - Chi phí phải trả phù lợi nhuận tiêu xã hội hợp - Mức độ xã hội hóa cao Thị phần Khách hàng trung Khách hàng thu Được tiếp cận tốt hơn bình, khá, tập trung nhập thấp ở nông tới dịch vụ tài chính ở thành thị thôn chính thức Giảm thiểu Đảm bảo chủ yếu Tín chấp - Hỗ trợ từ nhóm rủi ro LV bằng quảntài sản trị kinh doanh Sản phẩm Khoản vay lớn - Khoản vay nhỏ, trả - Đáp ứng đúng nhu dần, chủ yếu cho cầu và khả năng phụ nữ - Có thể thanh toán - Một số sản phẩm được bổ sung giúp nâng - Các dịch vụ bổ sung cao năng lực - Nâng cao năng lực giới Nhân lực Đào tạo và kỹ năng - Đào tạo và kỹ thuật - Cán bộ dễ gần, hiểu cao không cao khách hàng - Kỹ năng xã hội tốt Thủ tục Phức tạp hơn Đơn giản và tối - Dịch vụ tại chỗ, cần thiểu hóa là có - Dịch vụ gần gũi, thân thiện 11 Cách tiếp Tại phòng giao dịch, Tại thôn, xóm, nhà - Giảm chi phí giao cận chi nhánh khách hàng dịch - Thu hồi nợ dễ dàng Nguồn: Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm, 2013 1.3 Các hoạt động chính của TCTCVM (1) Hoạt động trung gian tài chính: Bao gồm các hoạt động tài chính cơ bản là cho vay (tín dụng) và huy động vốn (tiết kiệm). Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất của hầu hết các tổ chức TCVM, với việc cung cấp các khoản vay nhỏ đáp ứng nhu cầu của các hộ thu nhập thấp, đặc biệt là các hộ nghèo và có thể là các doanh nghiệp siêu nhỏ.
Hai phương pháp cung cấp tín dụng được áp dụng là cho vay cá nhân và cho vay theo nhóm, nhưng phổ biến hơn cả là hình thức cho vay theo nhóm.