Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác x hội trong giải quyết việc làm cho NKT vận động. Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác x hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho NKT vận động từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác x hội trong giải quyết việc làm đối với NKT vận động từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1.Khái niệm công cụ 1.
Khái niệm công tác xã hội Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về công tác x hội. Dưới đây là một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH được đông đảo các nhà nghiên cứu và những người thực hành CTXH trên thế giới tham khảo, sử dụng: Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia các nhân viên CTXH Mỹ (NASW - 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”. Theo Zastrow (1996): “Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ”. Theo tổ chức thực hành công tác x hội ( The Foundation of Social Work Practice): “Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội.
Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh. Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa”. Ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về CTXH. CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng x hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
13 Theo TS Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề về xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Như vậy, có thể hiểu công tác x hội là một nghề chuyên nghiệp, áp dụng những nguyên tắc, kỹ năng để trợ giúp có hiệu quả cho cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề góp phần xây dựng x hội công bằng, hạnh phúc. Khái niệm người khuyết tật Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các họat động, sinh họat hàng ngày, Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có 3 mức độ suy giảm là khiếm khuyết (impairment), khuyết tật ( disability) và tàn tật (handicap): - Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. - Khuyết tật chỉa đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết.
- Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ ( WHO, 1999) Một số khái niệm mô tả mức độ khuyết tật được sử dụng trong báo cáo Tổng điều tra Dân số năm 2009. Trong cuộc điều tra này đ sử dụng nhóm câu hỏi ngắn về khuyết tật được sử dụng về mức độ khó khăn trong việc thực hiện 4 chức năng là: 1) Nhìn; 2) Nghe; 3)Vận động và 4) Tập trung hoặc ghi nhớ. Người trả lời sẽ tự đánh giá mức độ khó khăn của mình theo 4 mức độ: 1) Không có khó khăn gì; 2) Có khó khăn; 3) Rất khó khăn; và 4) Không thể thực hiện được. 14 - Người khuyết tật (NKT) là những người có khó khăn ( gồm những người “có khó khăn”,”rất khó khăn”,và “không thể thực hiện được”) trong việc thực hiện ít nhất một trong 4 chức năng nói trên.
- Người không khuyết tật (NKKT) là những người không có khó khăn nào trong việc thực hiện cả 4 chức năng nói trên. - Người đa khuyết tật ( NĐKT) là những người có khó khăn khăn ( gồm những người “có khó khăn”,”rất khó khăn”,và “không thể thực hiện được”) trong việc thực hiện được ít nhất từ hai chức năng ( trong 4 chức năng nói trên) trở lên. - Người khuyết tật nặng (NKTN) gồm những người “không thể thực hiện” ít nhất một trong 4 chức năng nói trên. Theo Pháp Lệnh của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội số 06/1998/PLUBTVQ10 ngày 30/7/1998 về Người Tàn Tật định nghĩa NKT không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động từ 41% trở lên ( được Hội đồng y khoa có thẩm quyền xác định) khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn ( hồ sơ , thủ tục giám định y khoa áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư 34/TT-LB ngày 29/12/1993 của liên Bộ Lao động – Thương binh và X hội – Bộ Y tế).
Tại Việt Nam: Theo Luật Người khuyết tật Việt nam (2010), “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[10]. Dạng tật được quy định trong luật bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác. Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây: NKT đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. NKT nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng 15 ngày.
NKT nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này. Khái niệm người khuyết tật vận động Khái niệm NKT VĐ của Trường ĐH Bang California ở Northridge, nước Mỹ được đưa ra trong cuốn People with disablilities in the workplace là: “ NKT VĐ những người bị khuyết tật ở cơ quan vận động (cơ, xương, khớp, thần kinh ngoại vi) những khuyết tật trên làm cho NKT khó khăn trong việc đi đứng, làm việc như: Mất đoạn, biến dạng, lệch trục chi thể sau chấn thương, vết thương. Dính khớp, biến dạng khớp do chứng các bệnh lý khớp. Dị dạng bẩm sinh: bàn chân khèo, trật khớp háng bẩm sinh, gai đôi ….
Bại, liệt trong di chứng bại não, bại liệt, liệt dây thần kinh ngoại vi, viêm não – màng não, tủy sống, tai biến mạch não. Teo cơ, cứng khớp ở những bệnh nhân bị bệnh mạn tính phải nằm lâu ngày ở một tư thế “. Các biểu hiện thường thấy ở những người khuyết tật vận động: - Trẻ nhỏ có thể không bú được vì không thực hiện được động tác mút; khi bế đầu trẻ ưỡn ra sau, lưỡi thè ra khi mẹ đặt núm vú vào miệng, thường quấy khóc, không chịu chơi. - Trẻ ít hoặc không sử dụng tay, ít hoặc không di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác; ít chịu vận động, không chịu chơi, hay ngồi một mình, không tự chăm sóc mình được.
- Người lớn thường ít vận động, ít hoặc không sử dụng tay chân, di chuyển khó khăn, đau khớp, không tự ăn, uống, tắm, rửa, đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân; không tham gia được những công việc trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình, cộng đồng và x hội. - Người khuyết tật vận động cũng có thể có những khuyết tật khác kèm theo như khuyết tật về nghe, nói; nhìn, thần kinh… - Cách cư xử không bình thường: buồn rầu, chán nản, tính tình thay đổi bất thường, luôn trông chờ và sự giúp đỡ của người khác, giảm hoặc mất lòng tin vào chính mình. Khái niệm giải quyết việc làm 16 Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp , chính sách kinh tế x hội của Nhà Nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống x hôi tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có khả năng lao động. Trong phạm vi đề tài, giải quyết việc làm được hiểu là quá trình tạo điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người trong độ tuổi lao động , có khả năng lao động, đang có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công thịnh hành trên thị trường để có cơ hội làm việc.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ( 2006-2010) xác định giải quyết việc làm thông qua: - Chính sách vay vốn - Phát triển sản xuất, thu hút lao động - Tăng cường công tác hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người lao động - Đẩy mạnh công tác học nghề và đào tạo nghề - Cải thiện điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động Theo Luật NKT năm 2010 tạo việc làm có nghĩa là: “Tạo cho NKT tìm được một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc và thăng tiến với nó, nhờ đó thúc đẩy hòa nhập hoặc tái hòa nhập của cá nhân đó vào xã hội ( Khoản 2 Điều 1)”. Dịch vụ công tác xã hội Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội”. Ngoài ra còn có một số cách hiểu khác về dịch vụ x hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp nhận dịch vụ.