CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về BTT: 1.1 Sự cần thiết của dịch vụ bao thanh toán: Trong giao dịch thương mại, các bên luôn có những xung đột về lợi ích kinh tế do khác biệt về nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu. Nhu cầu của người mua là được mua chịu ghi sổ và thanh toán chậm. Nhu cầu của người bán là bán được hàng và nhận được tiền thanh toán ngay sau khi bán hàng để có thể tiếp tục quay vòng vốn sản xuất kinh doanh. Do nhu cầu của hai bên xung đột như vậy nên thông thường hoặc người bán hoặc người mua phải chịu thiệt để phía bên kia được hưởng lợi, tức là hoặc người bán để người mua trả chậm hoặc người mua phải thanh toán tiền ngay cho người bán.
Với dịch vụ BTT (Factoring), đôi bên mua và bán đều được hưởng lợi. Nói một cách khác, đơn vị BTT là cầu nối giữa hai nhu cầu nói trên của người mua và người bán. Cụ thể: đơn vị BTT cho người bán được nhận ứng trước ngay sau khi giao hàng (80-90% giá trị hoá đơn), trong khi người mua có thể trả chậm với thời gian thoả thuận với đơn vị BTT. Đặc biệt, BTT cung cấp cả dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng của người mua.
Tức là, người bán được đảm bảo nhận được 100% giá trị hoá đơn ngay cả khi người mua phá sản hoặc không thanh toán khi hoá đơn đến hạn với điều kiện hoá đơn đó không bị tranh chấp giữa các bên (giữa người bán và người mua và/hoặc bên thứ ba bất kỳ).2 Lịch sử hình thành và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán: BTT là một khái niệm còn lạ lẫm đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhưng lại là một dịch vụ không thể thiếu đối với doanh nghiệp nước ngoài. BTT không phải là một khái niệm mới, nó có nguồn gốc từ thời đế chế La Mã, xuất phát từ đại lý hưởng hoa hồng, những người thực hiện việc mua bán và luân chuyển hàng hoá khoảng 2000 năm trước. Khi đó, các nhà sản xuất và các nhà buôn giàu có sử dụng các đại lý thương mại hoặc người đại diện theo dõi doanh số bán hàng của họ, chức năng chính của các đại diện 4 Luận văn thạc GVHD: TS Hồ Phúc thương mại chỉ là Marketing cho các nhà sản xuất. Là đại lý, họ nắm quyền sở hữu bên hàng hoá của bên uỷ nhiệm – nhà sản xuất nước ngoài – rồi giao hàng hoá đó cho người mua trong nước, ghi sổ doanh thu/ thu nợ và thu nợ khi đến hạn, chuyển dư nợ cho bên uỷ nhiệm thu sau khi đã trừ phần phần hoa hồng của mình.
Với sự phát triển toàn cầu của ngành công nghiệp Anh vào thế kỷ 14 và thế kỷ 15 đã tác động đến sự lớn mạnh của tầm quan trọng của các đại lý thương mại. Khi họ dần dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước mà họ giao dịch cùng, họ bắt đầu đảm bảo khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả cho người uỷ nhiệm trong tương lai nếu người mua không thể trả nợ đúng hạn do khả năng tài chính không cho phép, đây là một hình thức bảo lãnh tín dụng để lấy hoa hồng cao hơn. Và khi đại lý thanh toán có đủ vốn, họ bắt đầu trả trước một phần (tạm ứng) cho người uỷ nhiệm của mình dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai. Do có khoản tạm ứng này mà đại lý thương mại tính thêm khoản phí hoa hồng hay lãi suất.
Thông thường, để tránh tình trạng người mua khiếu nại người bán về số lượng, chất lượng hàng hoá hay các điều khoản khác về thời gian địa điểm giao hàng, đại lý thương mại không ứng trước toàn bộ số tiền doanh thu bán hàng. Thay vào đó, họ giữ lại một phần các khoản phải trả cho bên bán cho đến khi bên mua và bên bán chấm dứt các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Người mua được người bán thông báo đại lý thương mại đã mua quyền được thanh toán của họ. Và từ khi chấp nhận ứng trước tiền cho người bán, ngoài chức năng Marketing, đại lý thương mại đã thực hiện thêm chức năng tài chính và trở thành đại lý BTT.
Thế kỷ 16 bắt đầu với sự khám phá Châu Mỹ của người Châu Âu, chế độ thực dân được áp đặt tại đây. Khoảng cách địa lý giữa Châu Âu và thị trường mới rất lớn và càng trở nên lớn hơn khi lãnh thổ Mỹ mở rộng dần ra phía tây là điều kiện rất thuận lợi cho BTT phát triển. Khoảng cách địa lý mênh mông khiến cho cách nhà sản xuất Châu Âu rất khó nắm bắt thị hiếu cũng như sự tin tưởng để cấp tín dụng thương mại cho thị trường mới đầy tiềm năng nhưng rất rủi ro này. Điều này đã làm cho vòng quay vốn lưu động của nhà sản xuất Châu Âu càng kéo dài hơn.
Kết hợp những yếu tố trên tạo nên những căng thẳng đáng kể với những nhà sản xuất này. Vì vậy, những đại lý BTT người Mỹ 5 Luận văn thạc GVHD: TS Hồ Phúc quen thuộc với thị trường và người mua nước họ đã được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ Marketing và tài chính như những người đồng nghiệp nước khác đã từng làm. Đến thế kỷ 19, Mỹ đã phát triển thành một cường quốc về công nghiệp và trở nên ít phụ thuộc vào hàng hoá nước ngoài. Khi đó, các mối quan hệ chính trị lệ thuộc giữa Mỹ và Châu Âu không còn tồn tại nữa, nhu cầu sử dụng các đại lý BTT để tiến hành nhập khẩu hàng đã giảm xuống, các nhà BTT nội địa ra đời đảm nhận việc bán hàng trong phạm vi biên giới một quốc gia.
Khi hệ thống thông tin liên lạc và các phương tiện vận chuyển đã phát triển, người ta nhận thấy các nhà sản xuất không nhất thiết phải ký gửi hàng hoá nữa. Hàng có thể bán bằng phương thức gửi mẫu qua các đại lý và chuyển trực tiếp cho các khách hàng. Mặc dù vậy, các nhà sản xuất vẫn duy trì việc sử dụng các đại lý BTT để tiến hành thanh toán cho các lô hàng, trong đó quyền của đại lý BTT là thu tiền thanh toán từ người mua cuối cùng. Đây là cơ sở cho BTT hiện đại, khái niệm BTT phát triển liên tục và ngày nay trở nên quen thuộc trong kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu.3 Khái niệm về bao thanh toán: Các giao dịch BTT cần tuân thủ theo một khung pháp lý chuẩn.
Hiện nay các công ty Factoring trên thế giới thường sử dụng Công ước UNIDROIT được thông qua ngày 28/5/1988 tại Ottawa – Canada hay Quy tắc chung về Factoring quốc tế của Hiệp hội Factoring quốc tế - General Rules For International Factoring – FCI làm chuẩn mực cho các giao dịch của mình. Tại Việt Nam, Thống đốc NHNN cũng ban hành Quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 1096/2004QĐ – NHNN ngày 06/09/2004. Có rất nhiều định nghĩa về BTT (factoring). Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu: Định nghĩa 1: Theo quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của NHNN V/v ban hành quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín dụng và quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của NHNN V/v sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN: BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát 6 Luận văn thạc GVHD: TS Hồ Phúc sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng, sử dụng dịch vụ thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng, cung ứng dịch vụ.
Định nghĩa 2: Hợp đồng Factoring là hợp đồng theo đó người bán có thể hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị BTT (factor), có thể với mục đích nhận tài trợ thương mại hoặc không để nhận ít nhất một trong các chức năng sau: - Theo dõi sổ sách các khoản phải thu. - Tài trợ dưới dạng ứng trước cho người bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu. - Thu hộ các khoản phải thu. - Bảo hiểm rủi ro nợ xấu.
Định nghĩa 3: Theo cuốn Marketing International Factoring, 2000, Neitherland của Hiệp hội Factoring quốc tế - FCI, dựa trên quan điểm của luật và kế toán thì BTT là một dịch vụ dựa vào những khoản phải thu được chuyển nhượng. Các khoản phải thu của người bán hàng được chuyển nhượng factor, do đó tạo ra sự chuyển đổi chủ nợ. Một factor sẽ trở thành một chủ nợ mới và độc quyền đối với các khoản phải thu, bao gồm cả các phần phụ thuộc vào các khoản phải thu đó. Một số định nghĩa khác: Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economic – Christopher Pass & Bryan Lones): BTT là 1 sự dàn xếp tài chính, qua đó 1 công ty tài chính chuyên nghiệp, qua đó, một công ty tài chính (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó.
Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa số tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty mua bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả. 7 Luận văn thạc GVHD: TS Hồ Phúc Còn theo từ điển thuật ngữ ngân hàng – Hans Klaus thì “BTT là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng).
Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng nói chung, có thể hiểu nghiệp vụ BTT chính là một hình thức tín dụng ngắn hạn tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hoá và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ. Đơn vị BTT đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua.