CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN VA DAO TAO, BOI DUGNG CAN BO CONG DOAN 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm cắn bộ công đoàn Theo Điều lệ công đoàn Việt Nam: “Cán bộ công đoàn là người được bầu vào các chức danh thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn (từ tổ công đoàn trở lên); được cơ quan, đơn vị có thâm quyền của công đoàn chỉ định hoặc bé nhiệm vào các chức đanh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn Việt Nam” [Điều 5tr. Hướng dẫn số 703/HD-TLĐ, ngày 06/5/2009 của Đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam về thi hành Điều lệ công đoàn Việt Nam xác định: “Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, ủy viên các ban quần chúng công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử, hoặc cấp công đoàn có thâm quyền chỉ định; cán bộ công chức lami công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức công đoàn các cấp” [15,tr.
Trên cơ sở định nghĩa về cán bộ công đoàn, có thể phân loại cán bộ công đoàn như sau: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguồn gốc tiền lương, cán bộ công đoàn gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách: - Cán bộ công đoàn chuyên trách: là những người làm việc chuyên trách trong các cơ quan công đoản, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn, hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do tổ chức công đoàn phân công công việc, đề bạt, bổ nhiệm hoặc công nhận chức danh bầu cử. Hiện nay, cán bộ công đoàn chuyên trách chủ yếu nằm ở cơ quan công đoàn cấp trên cơ sở và một số CĐCS có đông đoàn viên và công nhân lao động. Cán bộ công đoàn chuyên trách có thể chia thành 4 nhóm cơ bán như sau: + Nhóm thứ nhất: là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp công đoàn như Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên đoàn chủ tịch hoặc Ban thường vụ, trưởng ban, phó trưởng ban chuyên đề thuộc cơ quan công đoàn các cấp. + Nhóm thứ hai: là cán bộ được bỗ nhiệm vào ngạch công chức, viên chức làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc phục vụ ở cơ quan công đoàn các cấp.
+ Nhóm thứ ba: cán bộ giảng dạy ở các trường của hệ thống công đoàn, cán bộ nghiên cứu khoa học ở các viện trong hệ thống công đoàn. + Nhóm thứ tư: là cán bộ quản lý đơn vị sự nghiệp đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Công đoàn các cấp. - Cán bộ công đoàn không chuyên trách: Là những người làm việc kiêm nhiệm, chỉ dành một phần quỹ thời gian cho hoạt động công đoàn, không hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do đoàn viên tín nhiệm bầu vào Ban chấp hành công đoàn các cấp, từ trung ương đến cơ sở. Căn cứ vào tính chất công việc, chức trách, nhiệm vụ, cán bộ công đoàn gồm: - Cán bộ bằu cử: là các ủy viên Ban chấp hành, ủy viên ủy ban kiểm tra, thanh tra nhân dân, tổ trưởng, tổ phó tổ công đoàn.do đại hội công đoàn các cấp bầu ra.
Cán bộ bầu cử có thể là chuyên trách công đoàn hoặc không chuyên trách công đoàn. - Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ: là những cán bộ được tuyển dụng, bố nhiệm hoặc phân công làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan và đơn VỊ SỰ nghiệp trực thuộc công đoàn các cấp. Khải niệm đào tạo Đào tạo là hoạt động quan trọng để duy trì và nâng cao năng lực của cán bộ. Liên quan đến khái niệm đào tạo, có nhiều cách tiếp cận, song có thể nêu ra một số khái niệm sau: “Đào tạo” nguồn nhân lực là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và năm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghỉ với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo (đg/): Dạy dỗ rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp: đào tạo thành người trí thức; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ” [58,tr.
Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05/3/2010: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. Hà Văn Hội: “Đào tạo” [12.133] được hiểu là hoạt động nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói một cách cụ thể, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. Đào tạo lại: là quá trình đào tạo cho người người đã được đào tạo, song do quá trình phát triển xã hội, của công nghệ mới, tình hình sản xuất, công tác phải đào tạo thêm một số học phần để hoàn chỉnh kiến thức, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Xét về tổng thể, đào tạo lại là quá trình đào tạo bổ sung, kiến thức cho người học.225] theo nghĩa rộng, được hiểu là hoạt động đào tạo hình thành nên những con người mới. Giáo dục bao gồm bốn mặt: Trí dục-giáo dục trí tuệ; đức dục-giáo dục về đạo đức; thể dục-giáo dục thể chất và mỹ dục-giáo dục về mặt thâm mỹ. Qua giáo dục sẽ hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức của một con người. Trong các tổ chức, giáo dục được hiểu là hoạt động cần thiết để củng cố và hoàn thiện con người cũng như mỗi khi có sự thay đổi của môi trường, của công việc.
Như vậy, giáo dục và đào tạo có những điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng để phát triển năng lực của con người. Tuy nhiên, trong giáo dục, nhằm vào những năng lực rộng lớn, còn đào tạo nhằm vào những năng lực cụ thể để con người đảm nhận công việc xác định.829] là động từ có hai nghĩa: 1. Học và rèn luyện cho có tri thức, cho giỏi tay nghề: Học tập tốt, chăm chỉ học tập; 2. Noi theo: Học tập các điển - hình tiên tiến: Học tập bạn bè.
Học tập chính là bản chất của đào tạo, bồi dưỡng, nếu không có học tập, đào tạo, bồi dưỡng chỉ đơn thuần là một hoạt động mà thôi. Mọi đối tượng liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đều cần nhìn nhận việc bồi dưỡng từ gốc độ học tập. Câu hỏi của cả các nhà quản lý và nhân viên của tổ chức đều được đặt ra đó là cần phải học những gì, học như thế nào là kết quả kỳ vọng là gì? Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng không chỉ đơn thuần là truyền bá kiến thức mà là hoạt động học tập. Từ những khái niệm trên có thê rút ra những nhận xét chung như sau: Đào tạo là những hoạt động được thực hiện trên cơ sở nền tảng giáo dục, theo một nội dung, chương trình đã thiết kế từ trước để thỏa mãn nhu cầu nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của người tham gia đào tạo trên cơ sở mục tiêu đào tạo tiêu chuẩn nghề nghiệp đã định trước.
Giáo dục, đào tạo, đào tạo lại, học tập và bồi dưỡng đan xen với nhau rất khó phân biệt về mục đích, nội dung; chương trình. Vì vậy việc xác định ranh giới giữa giáo dục, đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng là rất khó phân biệt, trong luận văn này dùng cụm từ chung đó là: Đào tạo, bồi dưỡng. Khái niệm bồi dưỡng Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng” là động từ có hai nghĩa: “1. Làm cho khoẻ thêm, mạnh thêm; 2.
Làm cho tốt hơn, giỏi hơn: bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng nghiệp vụ” [58. Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP, ngày 05/3/2010 của Chính phủ: Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Vậy, bồi dưỡng có thể hiểu là hoạt động ngắn hạn nhằm mục đích trang bị một số tri thức và kỹ năng chuyên môn nhất định. Qua bồi đưỡng, cán bộ có được kỹ năng cần thiết để nhanh chóng vận dụng một công việc nào đó mà tổ chức kỳ vọng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
Trong đó, bồi dưỡng nghiệp vụ là hoạt động nhằm tăng cường, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng xử lý các tình huống nghiệp vụ, mức độ thành thạo công việc, kinh nghiệm công tác.để cán bộ, nhân viên làm việc tốt hơn, giỏi hơn, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao hơn, giảm thiểu rủi ro do kém hiểu biết, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm. Khái niệm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Công tác” có nghĩa là công việc của một cá nhân, một tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể hoặc của doanh nghiệp. Khái niệm công tác đào tạo, bồi đưỡng cán bộ công đoàn cho đến nay chưa được nêu trong từ điển tiếng Việt, nhưng đã được đề cập trong một số công trình khoa học, tuy có những cách thức tiếp cận khác nhan, song có những quan niệm chung như sau: “Đào tạo cán bộ công đoàn” là việc tô chức giảng đạy và học tập dài ngày gắn với việc giáo dục nhân cách, cung cấp kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ nhằm chuẩn bị cho cán bộ công đoàn khả năng đảm nhận một công việc nhất định. “Bồi đưỡng cán bộ công đoàn” là trang bị, tăng cường thêm kiến thức, truyền thụ kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động thực tiễn công đoàn để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ công đoàn nhằm hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức, tâm lý, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về tiêu chuẩn cán bộ công đoàn.