phần mở đầu và kết luận, phụ lục đƣợc kêt cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác thanh tra xây dựng cơ bản trên đị a bàn tỉnh. Chƣơng 2: Thực trạng công tác thanh tra xây dựng cơ bản trên đại bàn tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Khái niệm thanh tra Thuật ngữ thanh tra xuất hiện từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” (tiếng Anh là Inspect) là chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tƣợng nhất định.
Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, thì thanh tra “là sự kiểm soát đối với đối tƣợng bị thanh tra”. Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “ xem xét, phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thƣờng đi kèm với một chủ thể nhất định: Ngƣời làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đƣợc đặt trong phạm vi quyền của một chủ thể nhất định, là sự tác động của chủ thể đến đối tƣợng đã và đang thực hiện thẩm quyền đƣợc giao nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định.
Theo Từ điển tiếng Việt, “Thanh tra là kiểm soát xem xét tại chỗ việc làm của địa phƣơng, cơ quan, xí nghiệp”. Theo nghĩa này, Thanh tra bao hàm cả nghĩa kiểm soát: xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra thƣờng đi kèm với một chủ thể nhất định: ngƣời làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra của Bộ và có quyền hạn, nhiệm vụ của chủ thể nhất định. Trong sách báo pháp lý của ngành thanh tra thì “thanh tra đƣợc hiểu là sự xem xét, kiểm soát, kiểm tra thƣờng xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nƣớc khắc phục những nhƣợc điểm, phát huy ƣu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc”.
Cơ quan thanh tra nhà nƣớc tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nƣớc cùng cấp, Điều 02 Luật Thanh tra 2004 và Điều 03 Luật Thanh tra 2010 có nội dung: “Thanh tra nhà nƣớc là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nƣớc bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”. 6 Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát khái niệm thanh tra nhƣ sau: Thanh tra là một chức năng của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực nhà nước; hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặc điểm của thanh tra - Thanh tra có tính quyền lực: Tính quyền lực nhà nƣớc của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nƣớc.
Là một chức năng của quản lý nhà nƣớc, thanh tra phải thể hiện nhƣ một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tƣợng quản lý. Không thể không có quyền lực mà không gắn với một tổ chức. Nói về quyền lực nhà nƣớc trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nƣớc của tổ chức thanh tra. Vì vậy, thanh tra phải đƣợc nhà nƣớc sử dụng nhƣ một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý.
Khi nói đến tính quyền lực của các tổ chức thanh tra, Lênin nhấn mạnh: Thanh tra thiếu quyền lực là thanh tra suông. Tính quyền lực nhà nƣớc của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra nhà nƣớc đều có quyền hạn đƣợc xác định và khả năng thực hiện những quyền hạn đó: Ra các quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tƣợng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện; đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những ngƣời có lỗi gây ra những vi phạm đƣợc phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trƣớc pháp luật. Trong một số trƣờng hợp, trực tiếp áp dụng các biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc. Không nên cho rằng, hoạt động thanh tra là hoạt động mang tính cƣỡng chế, vì nhƣ thế là đồng nhất quyền lực với cƣỡng chế.
Cƣỡng chế chỉ là một yếu tố đặc biệt và chỉ trong những trƣờng hợp cần thiết khi sử dụng quyền lực nhà nƣớc mà thôi. Thanh tra là hoạt động thƣờng xuyên, thiết thực, có tính sáng tạo, ngày càng đƣợc mở rộng và trở nên rộng khắp, mang tính dân chủ sâu sắc. Do đó, nói đến tính quyền lực nhà nƣớc trong hoạt động thanh tra không có nghĩa là 7 trong hoạt động thanh tra chỉ sử dụng các biện pháp cƣỡng chế. Tính quyền lực nhà nƣớc trong quá trình thanh tra phải đƣợc cụ thể hoá trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống thanh tra, phƣơng thức tiến hành thanh tra, xử lý kết quả thanh tra, quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tƣợng bị thanh tra, sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nƣớc và thanh tra nhà nƣớc chuyên ngành, thanh tra nhân dân.
Nếu cụ thể hoá một mặt nào đó mà không thực hiện đồng bộ tính quyền lực nhà nƣớc trên các lĩnh vực đều dẫn đến hạ thấp vai trò và hiệu quả của hoạt động thanh tra, hạn chế hiệu lực thanh tra. - Thanh tra có tính độc lập: Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của bộ máy quản lý nhà nƣớc. Khác với hoạt động kiểm tra thƣờng do bản thân các cơ quan quản lý nhà nƣớc tiến hành, hoạt động thanh tra thƣờng đƣợc tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách.
Ngoài những nhiệm vụ nhƣ những cơ quan quản lý nhà nƣớc khác, các cơ quan thanh tra có nhiệm vụ chủ yếu là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nƣớc của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tính độc lập tƣơng đối trong quá trình thanh tra đƣợc thể hiện trên các điểm sau: Chỉ tuân theo pháp luật; tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đƣợc pháp luật quy định; ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra; chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. Ở đây, tính độc lập của hoạt động thanh tra chỉ là tƣơng đối, bởi vì trong hoạt động thanh tra, các cơ quan thanh tra phải căn cứ vào pháp luật và chính sách hiện hành, đồng thời phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, đặt sự vật, hiện tƣợng, việc làm đang xem xét trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, lịch sử cụ thể. Ở nƣớc ta, tính độc lập tƣơng đối của các cơ quan thanh tra trong quá trình thanh tra đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật từ khi Ban Thanh tra đặc biệt ra đời (23/11/1945) đến nay thể hiện thông qua thẩm quyền của các cơ quan thanh tra.
Điều5, Luật Thanh tra năm 2010 quy định: Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thƣờng của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tƣợng thanh tra. Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của thanh tra 1. Mục tiêu của thanh tra Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc; bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nguyên tắc cơ bản của thanh tra Để đạt đƣợc mục đích trên, hoạt động thanh tra đầu tƣ XDCB phải tuân thủ những nguyên tắc sau: - Một là, nguyên tắc tuân thủ pháp luật: Pháp luật thể hiện ý chí của Nhà nƣớc, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Thanh tra là việc thực hiện pháp luật nên thanh tra đầu tƣ XDCB cũng phải tuân theo pháp luật. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể thanh tra, nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra đầu tƣ XDCB; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động thanh tra. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và công chức thanh tra phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật qui định; xem xét đúng sai của đối tƣợng thanh tra phải căn cứ vào qui định của pháp luật mà không tuân theo ý kiến tác động của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào. - Hai là, nguyên tắc chính xác, khách quan: Đảm bảo chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong hoạt động thanh tra.
Có chính xác trong công tác thanh tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tƣợng thanh tra, giúp cho việc xử lý đúng ngƣời, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tƣợng đúng nhƣ nó vốn có, không suy diễn hay qui chụp một cách tùy tiện chủ quan. Tính khách quan và chính xác trong thanh tra, kiểm tra có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.