Chương 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG KHỞI NGHIỆP Môi trường khởi nghiệp Một doanh nghiệp tồn tại và hoạt động giống như một cơ thể sống, cần phải có sự tương tác với môi trường xung quanh để tồn tại và phát triển. Môi trường kinh doanh và doanh nghiệp có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau. Một môi trường kinh doanh thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Chính vì vậy, vai trò của môi trường đối với hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp là đặc biệt quan trọng, vì các doanh nghiệp này chỉ mới thành lập, đang ở trong giai đoạn dễ bị tổn thương nhất nên rất cần sự hỗ trợ từ các nhân tố thuộc môi trường.
Môi trường khởi nghiệp có thể hiểu là sự kết hợp của các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển một doanh nghiệp khởi nghiệp. Tương Luận văn thạc sĩ Kinh tế tự như môi trường kinh doanh, môi trường khởi nghiệp đề cập đến các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội có tầm ảnh hưởng đến sự sẵn sàng và khả năng khởi sự kinh doanh, cũng như sự sẵn có của các dịch vụ hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho khởi nghiệp. Tầm quan trọng của môi trường khởi nghiệp Từ lâu, các học giả đã nhận thức được vai trò quan trọng của môi trường khởi nghiệp qua những nghiên cứu. Để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của môi trường đối với khởi nghiệp, ta cần phân tích những thành phần cốt lõi của quá trình hình thành nên một doanh nghiệp mới và cách các yếu tố của môi trường tác động lên các thành phần này (theo Devi R.
Gnyawali và Daniel S.1: văn Các yếu tố thạc sĩtrìnhKinh cốt lõi của quá tế nghiệp mới hình thành doanh Nguồn: Theo Gnyawali, D., 1994 Nhiều nghiên cứu cho rằng, trước khi bắt đầu thành lập doanh nghiệp, các nhà khởi nghiệp cần phải nhận thức được sự tồn tại của cơ hội kinh doanh, có niềm tin vào sự sở hữu khả năng kinh doanh và sự chủ động, sáng tạo trong quá trình khởi sự. Theo mô hình của Devi R. Gnyawali và Daniel S. Fogel có ba yếu tố tác động lên khả năng hình thành một doanh nghiệp mới.
Đó là: - Cơ hội kinh doanh. - Khuynh hướng khởi nghiệp của cá nhân. - Năng lực khởi nghiệp. Cơ hội ở đây nói đến tính khả thi có thể thành lập và phát triển một doanh nghiệp mới.
Một nhà khởi nghiệp tiềm năng sẽ nhanh chóng nhận ra cơ hội kinh doanh sẵn có trên thị trường, nắm bắt chúng và biến cơ hội đó thành những dự án có 8 khả năng sinh lợi. Tuy nhiên, việc khai thác cơ hội còn phụ thuộc vào khuynh hướng khởi nghiệp của mỗi người. Khuynh hướng này sẽ gia tăng nếu cá nhân cảm thấy tự tin về khả năng của mình đối với hoạt động kinh doanh. Năng lực khởi nghiệp đề cập đến các khía cạnh liên quan đến cả năng lực kỹ thuật và năng lực kinh doanh cần có để bắt đầu quản lý doanh nghiệp.
Trong khi năng lực kỹ thuật là kỹ năng về mặt kỹ thuật thì năng lực kinh doanh là các kiến thức, kỹ năng về công việc kinh doanh như lập kế hoạch kinh doanh, quản lý nhân sự, tài chính, phát triển sản phẩm mới, marketing. Trước khi dẫn đến sự thành lập của một doanh nghiệp mới thì ba yếu tố: cơ hội, khuynh hướng khởi nghiệp và năng lực khởi nghiệp sẽ tương tác lẫn nhau, tạo ra sự kết hợp và quyết định khả năng thành lập doanh nghiệp. Trong quá trình đó, môi trường khởi nghiệp đóng vai trò then chốt giúp nhà khởi nghiệp gia tăng cả khuynh hướng khởi nghiệp lẫn năng lực khởi nghiệp. Khía cạnh môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội kinh doanh trên thị trường là các chính sách kinh tế vĩ mô và các quy trình, thủ tục kinh doanh.
Rõ ràng, Luận văn thạc sĩ Kinh tế nếu khuôn khổ pháp lý và các quy định tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường và giảm thiểu rào cản gia nhập kinh doanh thì sẽ có nhiều nhà khởi nghiệp theo đuổi ý tưởng của mình hơn. Đồng thời, các yếu tố thuộc về kinh tế xã hội sẽ tác động đến khuynh hướng khởi nghiệp của cá nhân. Khi giá trị khởi nghiệp được đánh giá cao kết hợp với tỷ lệ thành công cao trong khởi nghiệp, sẽ làm tăng sự công nhận của xã hội đối với khởi nghiệp. Từ đó có tác dụng thôi thúc khuynh hướng khởi nghiệp của mỗi cá nhân.
Ngoài ra, môi trường cũng có mức độ ảnh hưởng nhất định đến năng lực khởi nghiệp thông qua sự sẵn có của các khóa đào tạo liên quan đến khởi nghiệp. Một người nếu có khuynh hướng khởi nghiệp cao nhưng lại thiếu năng lực thì môi trường có thể cải thiện được bằng cách phát triển kỹ năng khởi nghiệp. Ngược lại, nếu một cá nhân có đủ năng lực để khởi nghiệp nhưng khuynh hướng khởi nghiệp thấp hoặc không có ý định khởi nghiệp thì môi trường sẽ tạo điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi để dẫn dắt nhà khởi nghiệp thực hiện ý tưởng. Tóm lại, môi trường có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với khởi nghiệp bởi vì nó có thể chi phối, tác động đến hành vi của nhà khởi nghiệp.
9 Các yếu tố của môi trường khởi nghiệp Luận văn thạc sĩ Kinh tế Hình 1.2: Các yếu tố của môi trường khởi nghiệp Nguồn: Theo Omerzel Gomezelj Doris and Kušce Irena, 2013 Tính đến thời điểm hiện tại, trên thế giới đã có rất nhiều những nghiên cứu về môi trường khởi nghiệp với các nhân tố cấu thành khác nhau. Trong số đó, nghiên cứu của Devi R. Gnyawali và Daniel S. Fogel vào năm 1994 được nhiều người xem như là nền tảng của các nghiên cứu sau này.
Theo Gnyawali và Fogel, môi trường khởi nghiệp bao gồm năm yếu tố: các chính sách và thủ tục của chính phủ; điều kiện kinh tế xã hội; hỗ trợ tài chính; hỗ trợ phi tài chính; các kỹ năng khởi nghiệp và kỹ năng kinh doanh. Một trong những nghiên cứu gần đây, năm 2013, Doris Omerzel 10 Gomezelj và Irena Kusce đã đưa ra mô hình bảy nhân tố của môi trường khởi nghiệp. Về cơ bản, nghiên cứu sau vẫn giữ lại các nhân tố được xác định bởi Devi R. Gnyawali và Daniel S.
Fogel, nhưng đã bổ sung thêm một số yếu tố mới như cơ sở hạ tầng kinh doanh, mức độ mở cửa và tính cạnh tranh của thị trường nội địa. Các chính sách, thủ tục, chương trình hành động của chính phủ đóng một vai trò quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của xã hội. Chính phủ có thể tác động đến cơ chế hoạt động của thị trường theo hướng tích cực bằng cách xóa bỏ các rào cản về mặt thủ tục hành chính, hay các yếu tố gây nên sự không hoàn hảo của thị trường. Trên thực tế, những nhà kinh doanh có thể từ bỏ ý định khởi nghiệp vì sự rườm rà, bất cập của các thủ tục.
Không ít trường hợp, nhà khởi nghiệp đã bỏ lỡ cơ hội kinh doanh chỉ vì tốn quá nhiều thời gian và tiền bạc để hoàn thành thủ tục. Do đó, sự hỗ trợ của các chính sách chính phủ là rất cần thiết cho hoạt động khởi nghiệp. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Một số chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến hoạt động khởi nghiệp có thể kể đến như: các yêu cầu về thủ tục đăng ký và cấp phép, các quy tắc về hoạt động khởi nghiệp, rào cản gia nhập, số lượng các tổ chức mà chủ doanh nghiệp cần phải báo cáo. Bên cạnh quy định về mặt thủ tục, các quy định về luật bảo vệ quyền sở hữu cũng có ý nghĩa hỗ trợ rất lớn cho doanh nghiệp khởi nghiệp.
Bởi các nhà khởi nghiệp tạo giá trị thông qua việc khai thác sản phẩm mới, thị trường mới, nếu không được bảo vệ quyền sở hữu thì các công ty lớn có thể dễ dàng sao chép công nghệ, sản phẩm mới và lợi dụng lợi thế quy mô, danh tiếng của mình để đánh bại các công ty khởi nghiệp nhỏ bé. Ngoài ra, những chính sách mang tính hạn chế thị trường hoạt động như quy định hạn chế xuất nhập khẩu cũng mang lại sự khó khăn cho doanh nghiệp. Việc hình thành một doanh nghiệp mới đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều nguồn lực, trong đó tài chính là một nguồn lực không thể thiếu. Thông thường, nhà khởi nghiệp cần sự hỗ trợ tài chính để tích lũy vốn khởi sự ban đầu, xử lý rủi ro, chuẩn bị tài chính cho sự tăng trưởng và mở rộng sau này.
Tuy nhiên, việc huy động vốn lại 11 không hề dễ dàng đối với các nhà khởi nghiệp. Vì nhiều lý do mà việc vay tiền từ ngân hàng và các nhà đầu tư gặp không ít khó khăn. Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp khởi nghiệp chỉ mới hoạt động, thậm chí mạo hiểm khai thác một thị trường hoàn toàn mới nên rủi ro cao, người cho vay không muốn cung cấp vốn. Từ đó, dẫn đến một bất cập, nhà khởi nghiệp không thể bắt đầu kinh doanh mà không có sự hỗ trợ tài chính, nhưng họ lại không thể tiếp cận với các nguồn tài chính vì bản thân thiếu kinh nghiệm kinh doanh trước đó.
Như vậy, khởi nghiệp rất cần đến sự hỗ trợ về mặt tài chính. Môi trường khởi nghiệp có thể nâng cao khả năng tài chính của các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua sự sẵn có, dễ dàng tiếp cận của các quỹ đầu tư mạo hiểm, những khoản vay lãi suất thấp hay các nguồn tài chính thay thế. Đồng hành cùng với sự trợ giúp tài chính từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng có thể hỗ trợ nhà khởi nghiệp bằng cách sẵn sàng tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và thực hiện chương trình bảo lãnh tín dụng cho các Luận văn thạccạnh tranhsĩ giữaKinh tế doanh nghiệp mới thành lập. Bên cạnh đó, sự gia tăng tính các tổ chức tài chính cũng là một yếu tố then chốt tạo nên một môi trường khởi nghiệp thuận lợi.
Tại những quốc gia đang phát triển, số lượng các ngân hàng, quỹ đầu tư có khả năng đầu tư vốn, hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp mới là không nhiều. Việc đa dạng hóa các nguồn tài chính không chỉ giúp nhà khởi nghiệp tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn, mà các dự án khởi nghiệp còn được định giá, đầu tư vốn xứng đáng hơn với tiềm năng phát triển của mình. Đặc biệt, sự kêu gọi đầu tư từ các tổ chức tài chính tư nhân sẽ làm tăng tính cạnh tranh.