Tổng quan nghiên cứu

Thị trường công nghệ bảo mật và an toàn thông tin toàn cầu đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc từ 16 tỷ USD năm 2001 lên 44,5 tỷ USD vào năm 2006, tạo ra áp lực chuyển dịch công nghệ mạnh mẽ đối với các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự bùng nổ của hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông sau khi ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bảo vệ không gian số quốc gia. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế vận hành, nhận diện các rào cản và đánh giá toàn diện hoạt động chuyển giao công nghệ bảo mật và an toàn thông tin theo cơ chế thị trường trong khu vực kinh tế - xã hội.

Mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào việc xác định các nhân tố tác động then chốt, phân tích sự tương tác giữa bên giao, bên nhận và môi trường thể chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi cao. Phạm vi nghiên cứu được xác định trên lãnh thổ Việt Nam trong mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2009, tập trung chủ yếu vào các giao dịch mua bán, chuyển giao công nghệ và dịch vụ an toàn thông tin thương mại. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa khoảng cách công nghệ, phân tích vai trò của hơn 250.000 nhân lực công nghệ thông tin đối với năng lực hấp thụ công nghệ bảo mật, đồng thời thiết lập luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý công nghệ lưỡng dụng phục vụ an ninh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết hệ thống (System Theory) làm nền tảng tiếp cận chủ đạo để phân tích cấu trúc đa chiều của hoạt động chuyển giao công nghệ. Hoạt động này được xem xét như một hệ thống phức hợp bao gồm các phần tử cốt lõi: đối tượng chuyển giao, bên chuyển giao, bên tiếp nhận và môi trường thể chế trung gian. Để giải mã bản chất của công nghệ, nghiên cứu tích hợp mô hình đánh giá 4 thành tố công nghệ của Trung tâm Chuyển giao Công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), bao gồm: phương tiện kỹ thuật (Technoware), năng lực con người (Humanware), thông tin tư liệu hóa (Inforware) và khung thể chế tổ chức (Orgaware).

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ các khái niệm nền tảng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 (Luật số 80/2006/QH11), phân loại công nghệ mật mã, công nghệ hạ tầng khóa công khai (PKI), sinh trắc học và hệ thống phòng chống xâm nhập (IDS/IPS). Luận văn cũng vận dụng lý thuyết về công nghệ lưỡng dụng (Dual-use Technology) gắn liền với thông lệ kiểm soát thương mại của 33 quốc gia thành viên thuộc Hiệp ước Wassenaar năm 1995, khẳng định tính đặc thù của sản phẩm bảo mật khi vừa phục vụ phát triển kinh tế dân sự, vừa gắn liền với an ninh và quốc phòng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp tiếp cận hệ thống. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các báo cáo chuyên đề của Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA), Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp không gian mạng Việt Nam (VNCERT), hệ thống cơ sở dữ liệu thị trường quốc tế IDC và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia và khảo sát chọn mẫu có chủ đích.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm đại diện từ 5 cơ quan quản lý nhà nước nòng cốt (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an) cùng hơn 50 doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực công nghệ, viễn thông và tài chính - ngân hàng như VNPT, Viettel, FPT, CMC và các ngân hàng thương mại. Phương pháp chọn mẫu chuyên gia được lựa chọn vì tính chất chuyên biệt, nhạy cảm của công nghệ bảo mật đòi hỏi nguồn thông tin có độ tin cậy chuyên sâu từ những người trực tiếp hoạch định chính sách và vận hành hệ thống. Quá trình xử lý dữ liệu và chứng minh giả thuyết được triển khai xuyên suốt giai đoạn thực hiện đề tài từ năm 2005 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường chuyển giao công nghệ bảo mật và an toàn thông tin tại Việt Nam phát triển cục bộ và phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung quốc tế. Trên phạm vi toàn cầu, thị trường dịch vụ bảo mật tăng trưởng 24% mỗi năm, đạt 23,2 tỷ USD vào năm 2006 (chiếm 42% tổng thị phần), trong khi phần cứng tăng trưởng 25% và phần mềm tăng trưởng 16%. Tại Việt Nam, hơn 90% giải pháp bảo mật lõi và thiết bị chuyên dụng được nhập khẩu trực tiếp từ các tập đoàn nước ngoài như Cisco, RSA Security, Juniper, Symantec, CheckPoint, tập trung chủ yếu tại 2 trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ hai, mức độ sẵn sàng về nhân lực an toàn thông tin của các tổ chức tiếp nhận còn ở mức rất thấp. Số liệu khảo sát thực tế chỉ ra rằng tỷ lệ doanh nghiệp có cán bộ trực tiếp hoặc gián tiếp phụ trách quản trị mạng trên toàn quốc đạt khoảng 56%, trong đó khu vực phía Nam đạt 61,6% và khu vực phía Bắc đạt 51,5%. Trong khối cơ quan nhà nước, tỷ lệ đơn vị có cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về an toàn thông tin chỉ dừng lại ở mức 49,2%.

Thứ ba, quy mô đào tạo chuyên sâu chưa đáp ứng được tốc độ chuyển giao công nghệ. So với tổng quy mô 250.000 nhân lực công nghệ thông tin trên toàn quốc thời điểm khảo sát, nhân sự chuyên trách an toàn thông tin chiếm tỷ lệ dưới 1%. Học viện Kỹ thuật Mật mã mở ngành đào tạo chính quy 5 năm từ năm 2004 với quy mô 200 sinh viên mỗi năm, cùng với các trường đại học lớn đào tạo bổ sung khoảng 200 đến 250 chỉ tiêu mỗi năm. Năm 2008, toàn khu vực phía Nam chỉ có khoảng 1.000 lượt người được đào tạo cấp chứng chỉ ngắn hạn về an toàn thông tin.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chuyển giao công nghệ bảo mật tại Việt Nam chủ yếu dừng lại ở hình thức mua bán thiết bị và bản quyền phần mềm đóng gói, thiếu vắng các hợp đồng chuyển giao bí quyết kỹ thuật hay quy trình công nghệ gốc. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự bất cân xứng thông tin nghiêm trọng giữa nhà cung cấp nước ngoài và bên tiếp nhận trong nước. Bên mua khó có thể thẩm định chính xác độ tin cậy và cấu trúc mã nguồn bên trong các thiết bị phần cứng, làm gia tăng nguy cơ tồn tại lỗ hổng bảo mật và cổng sau (backdoor).

Các dữ liệu nghiên cứu về sự phân bổ nguồn lực có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh tỷ lệ nhân sự an toàn thông tin giữa các vùng miền, kết hợp bảng ma trận đối chiếu cơ cấu chi tiêu giữa phần cứng (Firewall/VPN chiếm 24,8%), phần mềm (quản lý thông tin mật chiếm 43%) và dịch vụ tư vấn. So với các nước phát triển áp dụng cơ chế tự do hóa thương mại đi kèm kiểm soát xuất khẩu theo Hiệp ước Wassenaar, Việt Nam còn thiếu các phòng thí nghiệm kiểm định độc lập. Việc Ban Cơ yếu Chính phủ đề xuất 6 tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về mật mã và việc áp dụng hệ thống quản lý an toàn thông tin ISO/IEC 27001:2005 bước đầu định hình trật tự quản lý, nhưng vẫn chưa tạo ra cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu nội sinh và thị trường thương mại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý và hệ sinh thái tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ cần xây dựng và ban hành đồng bộ 10 đến 15 quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành giai đoạn 2010 - 2015, bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn ISO/IEC 27001:2005 và các tiêu chuẩn mật mã đối xứng, khóa công khai cho 100% hệ thống thông tin trọng yếu của các cơ quan nhà nước và tập đoàn tài chính.

Thứ hai, đột phá chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bảo mật. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan chủ quản cần nâng quy mô tuyển sinh đại học chuyên ngành an toàn thông tin lên mức 1.000 kỹ sư mỗi năm trước năm 2015, đồng thời đặt mục tiêu đào tạo cấp chứng chỉ an toàn thông tin quốc tế chuẩn hóa cho 5.000 lượt cán bộ quản trị mạng tại các doanh nghiệp và cơ quan công quyền.

Thứ ba, thiết lập các thiết chế hỗ trợ thị trường và kiểm định công nghệ độc lập. Bộ Khoa học và Công nghệ cần phân bổ nguồn kinh phí từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia để xây dựng 2 đến 3 phòng thí nghiệm kiểm định an toàn thông tin đạt chuẩn quốc tế tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2013, thực hiện chức năng giám định độc lập, đánh giá chất lượng và định giá công nghệ nhằm xóa bỏ tình trạng bất cân xứng thông tin.

Thứ tư, triển khai cơ chế luân chuyển công nghệ lưỡng dụng giữa quốc phòng và kinh tế. Dựa trên khung pháp lý của Pháp lệnh Công nghiệp Quốc phòng năm 2008, Bộ Quốc phòng và các bộ ngành liên quan cần xây dựng quy chế giải mật và thương mại hóa 20% đến 30% các sáng chế, thuật toán mã hóa phi quân sự từ các viện nghiên cứu lực lượng vũ trang để phục vụ thương mại điện tử, dịch vụ ngân hàng và giao dịch công trực tuyến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ. Luận văn cung cấp khung phân tích hệ thống và cơ sở thực tiễn để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật, điều chỉnh Luật Chuyển giao công nghệ và ban hành các chính sách kiểm soát sản phẩm mật mã dân sự phù hợp thông lệ quốc tế.

Nhóm thứ hai là các giám đốc công nghệ (CTO), giám đốc an toàn thông tin (CISO) và chuyên gia quản trị mạng tại các doanh nghiệp viễn thông, tài chính, ngân hàng. Tài liệu mang lại góc nhìn chiến lược giúp đánh giá đúng 4 thành tố công nghệ (Technoware, Humanware, Inforware, Orgaware), từ đó đàm phán hợp đồng chuyển giao tối ưu, giảm thiểu 30% đến 40% chi phí rủi ro khi mua sắm giải pháp ngoại nhập.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Chính sách Khoa học Công nghệ, An toàn thông tin, Quản lý Công nghệ. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu hệ thống, cung cấp số liệu thực tế giai đoạn 2000 - 2009 cho các đề tài phân tích chính sách công nghệ cao.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và tổ chức trung gian môi giới công nghệ. Luận văn hỗ trợ nhận diện các phân khúc thị trường tiềm năng như dịch vụ kiểm định rủi ro, đào tạo chứng chỉ an toàn thông tin và giải pháp bảo mật dữ liệu ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

Chuyển giao công nghệ bảo mật và an toàn thông tin có điểm gì khác biệt so với công nghệ thông thường? Công nghệ bảo mật có hàm lượng tri thức vô hình rất cao, khó nhận biết trực tiếp bằng mắt thường và chứa đựng sự bất cân xứng thông tin lớn giữa bên bán và bên mua. Hiệu quả sử dụng phụ thuộc chặt chẽ vào quy trình vận hành bảo mật nghiệp vụ và trình độ nhân lực làm chủ công nghệ tại đơn vị tiếp nhận.

Tại sao công nghệ mật mã lại chịu sự kiểm soát chặt chẽ trong chuyển giao quốc tế? Mật mã là công nghệ cốt lõi mang tính chất lưỡng dụng, vừa phục vụ bảo vệ dữ liệu kinh tế dân sự, vừa có khả năng ứng dụng trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng. Các hiệp ước quốc tế như Hiệp ước Wassenaar gồm 33 quốc gia tham gia kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu các thuật toán mã hóa nhằm ngăn chặn nguy cơ xâm hại an ninh quốc gia.

Thực trạng nhân lực an toàn thông tin tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009 như thế nào? Nguồn nhân lực an toàn thông tin thời kỳ này thiếu hụt nghiêm trọng, chỉ chiếm dưới 1% tổng số 250.000 cán bộ công nghệ thông tin. Tỷ lệ cơ quan nhà nước có nhân sự phụ trách an toàn thông tin chỉ đạt 49,2%, trong khi quy mô đào tạo đại học chính quy của cả nước chỉ cung ứng khoảng 400 đến 450 kỹ sư mỗi năm.

Cơ chế chuyển giao công nghệ lưỡng dụng mang lại lợi ích gì cho quốc gia? Cơ chế này giúp khai thác tối đa nguồn lực nghiên cứu quốc phòng để phục vụ phát triển kinh tế số, đồng thời huy động nguồn lực tài chính xã hội hóa từ các doanh nghiệp thương mại để tái đầu tư nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ của lực lượng vũ trang, tránh lãng phí ngân sách nhà nước.

Làm thế nào để các tổ chức trong nước giảm rủi ro khi tiếp nhận giải pháp an toàn thông tin nước ngoài? Các tổ chức cần yêu cầu đối tác nước ngoài chuyển giao đồng bộ tài liệu hướng dẫn và tổ chức đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ kỹ thuật nội bộ, đồng thời thực hiện kiểm định độc lập thông qua các phòng thí nghiệm quốc gia để phát hiện các lỗ hổng tiềm ẩn trước khi đưa vào vận hành thực tế.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán lý luận và thực tiễn về hoạt động chuyển giao công nghệ bảo mật và an toàn thông tin tại Việt Nam với 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết tiếp cận hệ thống và mô hình 4 thành tố công nghệ trong việc phân tích các hoạt động chuyển giao công nghệ an toàn thông tin.
  • Phân tích bức tranh toàn cảnh thị trường bảo mật quốc tế quy mô 44,5 tỷ USD và chỉ rõ sự phụ thuộc công nghệ của thị trường Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009.
  • Lượng hóa thực trạng thiếu hụt nguồn nhân lực an toàn thông tin khi có tới 50,8% cơ quan nhà nước chưa có cán bộ chuyên trách.
  • Xác lập luận cứ khoa học về việc thúc đẩy cơ chế luân chuyển công nghệ lưỡng dụng giữa hai khu vực quốc phòng và kinh tế - xã hội.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp công cụ gián tiếp (chính sách, tiêu chuẩn ISO 27001) và công cụ trực tiếp (kiểm định, đào tạo nhân lực, quỹ đổi mới công nghệ).

Để hiện thực hóa các định hướng chiến lược đến năm 2015 và tầm nhìn 2020, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần bắt tay triển khai ngay các chương trình hành động trọng điểm. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy chủ động khai thác các luận cứ của công trình để xây dựng chiến lược làm chủ công nghệ, bảo vệ vững chắc chủ quyền không gian số quốc gia.