chương 1: Rủi ro tín dụng là vấn đề luôn được các ngân hàng thương mại đặc biệt quan tâm trong quá trình hoạt động của mình, vì khi xảy ra rủi ro trong lĩnh vực tín dụng thông thường sẽ gây nên nhiều tổn thất cho ngân hàng cấp tín dụng, từ hình ảnh, thương hiệu, uy tín cho đến các thiệt hại về mặt kinh tế và đặc biệt quan trọng hơn là tổn hại đến niềm tin của khách hàng. Chính vì tầm quan trọng đó mà Ngân hàng trung ương của các quốc gia và bản thân các ngân hàng thương mại vẫn luôn tích cực tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro xảy ra trong lĩnh vực tín dụng. Giống như Thái Lan sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã có những cải tổ mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng trong đó chấn chỉnh tín dụng, phòng ngừa rủi ro được ưu tiên hàng đầu, các ngân hàng Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có những nổ lực rất lớn để nâng cao chất lượng của công tác tín dụng sau thời gian dài các ngân hàng thương mại quốc doanh gặp những khó khăn trong công tác này do buông lỏng quản lý. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -23- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng của các NHTM trên địa bàn TPHCM 2.
Tổng quan hoạt động kinh tế trên địa bàn TPHCM: Trong năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Quốc gia, kinh tế TPHCM tiếp tục tăng trưởng và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Trong đó: + Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,2% + Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn trong năm đạt 298.517 tỷ đồng , tăng 13,5% so với năm 2005. + Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện được: 66.978 tỷ đồng, tăng 16,7% so với năm 2005 + Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2006 có 251 dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư là: 1.520,5 triệu USD + Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt: 13.694,8 triệu USD, tăng 12,5% so với năm 2005 + Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt: 6.621 triệu USD, tăng 4,4% so với năm 2005 (Nguồn: Báo cáo tổng kết của CN NHNN TPHCM) Cùng với sự thắng lợi của kinh tế TPHCM, ngành ngân hàng trên địa bàn cũng có những bước phát triển rất nỗi bật tạo nên những tiếng vang lớn và góp phần đáng kể cho sự tăng trưởng của kinh tế thành phố, thể hiện qua: - Năng lực tài chính và khả năng kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn ngày càng cao, gắn liền với quá trình tăng trưởng liên tục về vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần. Đến 31/12/2006 tổng vốn điều lệ của các NHTMCP trên địa bàn đạt 13.033 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2005.
Trong đó 1 NHTMCP đạt mức vốn điều lệ trên 2.000 tỷ đồng, 4 ngân hàng trên 1.000 tỷ, 8 ngân hàng trên 500 tỷ và 5 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 500 tỷ. - Kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn đạt được rất cao, đây là một trong những điểm nỗi bậc nhất của kinh tế thành phố trong năm 2006. Trong 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -24- đó nhiều ngân hàng hoàn thành sớm các chỉ tiêu lợi nhuận kế hoạch đề ra. Kết thúc năm hoạt động 2006 tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tăng 24,95% so với năm 2005.
Kết quả lợi nhuận tăng trưởng cao trong năm của các ngân hàng thương mại xuất phát từ 3 yếu tố sau: Thứ nhất: Quy mô hoạt động dịch vụ ngân hàng không ngừng mở rộng và tăng trưởng. Đặc biệt là quy mô về huy động vốn và cho vay tăng trưởng khá cao. Tổng thu nhập về dịch vụ và kinh doanh trong năm 2006 đã tăng 42,5% so với năm 2005 điều này tất yếu sẽ dẫn đến kết quả lợi nhuận sẽ tăng mạnh về phương diện hạch toán kế toán. Thứ hai: Chất lượng tài sản có từng bước được cải thiện so với những năm trước đây.
Trong đó chất lượng tín dụng được đảm bảo đã tạo điều kiện cho quá trình khai thác và sử dụng vốn hiệu quả. Bên cạnh đó, việc sử dụng tài sản có của các ngân hàng thương mại đã có chuyển biến tích cực theo hướng đa dạng hóa đầu tư (hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, đầu tư chứng khoán, cho thuê tài chính, tiền gửi, …) đã góp phần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hạn chế rủi ro và tăng hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó việc nâng cao trình độ quản trị điều hành, năng động và nhạy bén với thị trường, có kế họach và chiến lược kinh doanh phù hợp đã góp phần mang lại thành công chung của hệ thống ngân hàng thành phố. Thứ ba: Yếu tố môi trường: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế ngày càng hoàn thiện và phát triển.
Với tốc độ tăng trưởng và phát triển của kinh tế thành phố >12%, các ngành, các lĩnh vực kinh tế phát triển, hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng hiệu quả là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng phát triển trong mối quan hệ ngân hàng – khách hàng và nền kinh tế. - Các hoạt động dịch vụ ngân hàng tiếp tục phát triển. Trong đó dịch vụ thẻ ATM đã và đang trở thành người bạn rất thân thiết với mọi người dân thành phố, điều này đã mang lại lợi ích khá lớn cho các ngân hàng được sử dụng một nguồn vốn rẻ. Trong năm 2006 tổng số thẻ phát hành trên địa bàn đạt 1.171 thẻ tăng 70,8% so với năm 2005 - Mô hình giao dịch một cửa đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian và thủ tục cho khách hàng cộng với mạng lưới phát triển rộng khắp với trên 697 đơn vị ngân hàng thương mại (bao gồm hội sở, sở giao dịch, chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm) đã đem lại những thuận lợi nhất cho khách hàng khi muốn giao dịch với ngân 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -25- hàng và đây cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy mở rộng và tăng trưởng nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng ngân hàng trên địa bàn.
Tình hình thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng: 2. Huy động vốn: Bảng 2.1 Tổng kết tình hình huy động vốn giai đọan 2002-2006 Đvt: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Tiền gởi VND 52.554 Tiền gởi ngọai tệ 33.503 Tốc độ tăng so với 30,7% 35,9% 29,1% 22,8% 54,7% năm trước TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN 2002 - 2006 300,000 285,503 250,000 200,000 184,600 150,000 150,337 100,000 116,470 85,966 50,000 0 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 (Nguồn: Báo cáo tổng kết của CN NHNN TPHCM) Bảng số liệu tổng kết tình hình huy động vốn của các ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM qua 5 năm cho thấy, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đã tăng trưởng mạnh, điều này xuất phát từ sự tăng trưởng ổn định với tốc độ cao của nền kinh tế đã làm cho các thành phần kinh tế cũng ngày lớn mạnh về quy mô và tầm vóc, nguồn vốn dồi dào. Bên cạnh đó, thu nhập của người dân thành phố cũng đã được tăng lên đáng kể dẫn đến tiết kiệm được 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -26- nhiều hơn, trong khi thị trường bất động sản vẫn còn đang trong tình trạng đóng băng và chưa có dấu hiệu phục hồi thì việc gởi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất ổn định và an toàn là giải pháp được nhiều người lựa chọn, điều này đã giúp cho các Ngân hàng thương mại dể dàng trong việc tăng trưởng nguồn vốn cho mình. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của hệ thống Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM đã cho thấy sự chưa đồng đều và có chênh lệch khá cao, năm 2005 chỉ đạt tốc tốc độ tăng 22,8% so với năm trước tuy nhiên năm 2006 tốc độ lại tăng rất mạnh 54,7%.
Nguyên nhân là do thời điểm các doanh nghiệp rút vốn gởi tại các ngân hàng để đầu tư vào các dự án lớn, trong đó đặc biệt năm 2005 đã có rất nhiều dự án thủy điện với nguồn kinh phí lớn được các doanh nghiệp đầu tư và một phần ảnh hưởng không nhỏ đến nguốn vốn ngân hàng đó chính là sự bùng nỗ của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua đã khiến một bộ phận không nhỏ nguồn vốn tiết kiệm của người dân được được dịch chuyển sang đầu tư chứng khoán. Tình hình cho vay của các ngân hàng thương mại trên địa bàn: Bảng 2.2 Tổng kết tình hình dư nợ theo loại tiền tệ giai đọan 2002-2006 Đvt: Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Dư nợ VND 52.003 ngọai tệ Tổng dư nợ 74.747 Tỷ lệ tăng, giảm so với 32,1% 35,9% 35,4% 24,6% 35% năm trước 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -27- TÌNH HÌNH CHO VAY 2002 - 2006 250,000 200,000 229,747 150,000 170,200 136,624 100,000 100,886 50,000 74,243 0 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 (Nguồn: Báo cáo tổng kết của CN NHNN TPHCM) Tình hình dư nợ của hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM các năm qua cho thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ khá đồng đều, riêng năm 2005 tốc độ tăng có phần thấp hơn các năm còn lại (tăng 24,6% so với năm trước). Tốc độ phát triển dư nợ đã phản ánh rất sát với tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố, các doanh nghiệp, cá nhân tích cực mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp mới được thành lập ngày càng nhiều hơn điều này đồng nghĩa với việc phải có một nguồn vốn lớn cho các doanh nghiệp này hoạt động và ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ lực nhất cho nhu cầu đó. Năm 2006, tốc độ tăng trưởng dư nợ đạt 35%, ngoài yếu tố kinh tế thành phố tiếp tục phát triển ổn định thì một nhân tố cũng được xem là quan trọng góp phần vào việc phát triển dư nợ đó chính là vốn điều lệ của các nhân hàng TMCP liên tục được nâng lên nhờ sự trợ giúp khá đắc lực của thị trường chứng khoán, điều này đã tạo cơ hội cho các ngân hàng thương mại tăng quy mô hoạt động và đặc biệt là có đủ năng lực tài chính để mở rộng địa bàn kinh doanh của mình.