phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hƣng Yên Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hƣng Yên 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân 1. Khái niệm Tín dụng ngân hàng Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm tín dụng khác nhau nhƣng ta có thể định nghĩa tín dụng một cách đầy đủ nhƣ sau: “Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về một lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu” [12, tr78].
Vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân là một hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình. Trƣớc đây, các ngân hàng ít quan tâm đến đối tƣợng khách hàng là cá nhân vì món vay thƣờng rất nhỏ, việc thu nợ phiền phức. Ngày nay, khi nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân ngày càng nâng cao thì các ngân hàng đã chú ý, 5 quan tâm hơn đến đối tƣợng này.
Các thủ tục cho vay ngày càng trở nên nhanh chóng, đáp ứng đƣợc nhiều hơn những yêu cầu của khách hàng đƣa ra. Đối tƣợng tín dụng khách hàng cá nhân: + Cá nhân. + Hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, do đó nó mang những đặc điểm cơ bản của tín dụng ngân hàng, đó là: Tín dụng là sự cung cấp một lƣợng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả đƣợc nợ. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng một lƣợng giá trị có thời hạn. Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, ngƣời cho vay thƣờng xác định rõ thời gian cho vay. Tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Ngoài những đặc điểm chung trên, thì tín dụng KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình tín dụng khác nhƣ: Về khách hàng vay là các cá nhân và hộ gia đình. Về mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. Về quy mô khoản vay: Hầu hết có quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng các khoản tín dụng lớn. Điều này là vì tín dụng KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình nhằm hai mục đích là bổ sung vốn sản xuất kinh doanh nhỏ và tiêu dùng.
Với mục đích tiêu dùng thì giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thƣờng ở mức vừa phải, đa số khách hàng vay đã có sự tích lũy từ trƣớc đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng của họ. Tuy quy mô khoản vay này nhỏ nhƣng tổng 6 quy mô của khoản vay này lại lớn, do số lƣợng khách hàng cá nhân có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn, nhu cầu vay phong phú và đa dạng. Về nguồn trả nợ: Lấy từ lƣơng, cho thuê tài sản hoặc thu nhập từ các hoạt động kinh doanh. Về rủi ro đối với tín dụng KHCN: Có mức rủi ro lớn, đƣợc coi là tài sản rủi ro nhất trong các tài sản của ngân hàng.
Điều này xuất phát từ các nguyên nhân sau: - Rủi ro đạo đức: Đối với các khoản cho vay cá nhân thì khả năng hoàn trả vốn vay phụ thuộc vào thu nhập của ngƣời đi vay. Nhƣng có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hƣởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng. Nhân tố chủ quan có thể là do tình hình tài chính của ngƣời đi vay, công việc làm ăn không tốt, khách hàng cố tình giấu diếm ngân hàng để đƣợc vay vốn,… ảnh hƣởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng. Các nhân tố khách quan nhƣ hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc làm,… là nguy cơ ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
- Rủi ro lãi suất: Khác với các khoản cho vay kinh doanh, ngân hàng và khách hàng thƣờng thỏa thuận áp dụng mức lãi suất thả nổi, tức là lãi suất đƣợc điều chỉnh trong từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn vay. Đối với cho vay cá nhân, lãi suất thƣờng đƣợc cố định nên nguy cơ rủi ro lãi suất trong cho vay cá nhân sẽ cao hơn. - Rủi ro thông tin bất cân xứng: Việc thẩm định KHCN về thân nhân nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thƣờng khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng. - Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm của tín dụng KHCN là quy mô nhỏ nhƣng số lƣợng lớn nên để phục vụ đƣợc tất cả các khách hàng với thời gian nhanh nhất, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng một số nhân viên ngân hàng thƣờng hay 7 chủ quan thậm chí lợi dụng sự sơ hở của quy trình để chiếm đoạt tài sản của khách hàng hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro này còn cao hơn đối với các khoản cho vay tín chấp vì ngân hàng cấp tín dụng dựa vào thẩm định uy tín của khách hàng mà không có tài sản đảm bảo. Về chi phí quản lý khoản tín dụng KHCN lớn: Do quy mô của mỗi khoản tín dụng nhỏ thậm chí không đáng kể xong số lƣợng các khoản vay lại rất lớn cho nên chi phí hành chính, chi phí quản lý tín dụng lớn. Hơn nữa việc cập nhật thông tin cá nhân khó chính xác và đầy đủ nên các ngân hàng thƣờng phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra các thông tin về KHCN trƣớc khi phê duyệt cho vay. Ngoài ra ngân hàng còn phải chịu các chi phí thƣờng xuyên khác nhƣ chi phí theo dõi, kiểm tra khách hàng thƣờng xuyên.
Về lãi suất cho vay: Các khoản tín dụng KHCN có mức lãi suất cho vay chƣa linh hoạt, thƣờng cao hơn các khoản cấp tín dụng khác. Điều này là vì các khoản tín dụng KHCN có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay của NHTM. KHCN thƣờng ít nhạy cảm với lãi suất, họ thƣờng chỉ quan tâm đến khoản phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng, do đó lãi suất tín dụng cá nhân thƣờng đƣợc ấn định tại một mức nhất định. Đối với cho vay ngắn hạn, lãi suất đƣợc ấn định ngay từ đầu và không đổi cho đến hết thời hạn vay.
Còn với các khoản cho vay trung dài hạn, lãi suất cho vay thƣờng đƣợc điều chỉnh mỗi năm một lần dựa trên cơ sở lãi suất huy động, cộng với biên độ nhất định tùy từng ngân hàng. Về tƣ cách khách hàng là yếu tố khó xác định, tƣ cách khách hàng quyết định thiện chí trả nợ của khách hàng. Khi thẩm định khách hàng vay vốn, cán bộ tín dụng luôn phải đánh giá tƣ cách của khách hàng. Một khách hàng đƣợc đánh giá là có tƣ cách tốt thì khả năng sử dụng vốn đúng mục đích và khả năng trả nợ cao, và ngƣợc lại.
Nhƣng khách hàng thƣờng cố che giấu nên cán bộ tín dụng khó xác định đƣợc tƣ cách của họ. Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân a. Đối với Ngân hàng Tín dụng KHCN có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng thƣơng mại. Cụ thể: Hoạt động tín dụng cá nhân giúp ngân hàng mở rộng mối quan hệ với khách hàng.
Ngoài việc cấp tín dụng cho KHCN, tín dụng KHCN còn giúp ngân hàng thuận lợi trong việc bán chéo sản phẩm nhƣ: Tiền gửi tiết kiệm, giao dịch thanh toán, chuyển lƣơng qua tài khoản, phát hành thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử,… từ đó tăng vốn huy động, tăng sức mạnh cạnh tranh và tạo đƣợc những nét đặc trƣng riêng cho ngân hàng nên cũng nâng cao đƣợc thƣơng hiệu cho ngân hàng. Tín dụng KHCN là hoạt động giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Vì nếu ngân hàng chỉ quan tâm đến tín dụng doanh nghiệp có nhu cầu vốn lớn thì khi các doanh nghiệp gặp khó khăn gây ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ thì sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các ngân hàng tìm đến tín dụng KHCN nhƣ một biện pháp để phân tán rủi do vì số lƣợng KHCN rất đông, khoản vay ít nên khi có 1 hoặc 1 số KHCN không có khả năng trả nợ thì cũng ít ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.