Chương I: Tổng quan nghiên cứu chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân. Chương II: Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng dịch vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại PGD Tôn Đức Thắng Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Hà Nội. Chương IV: Một số giải pháp quản trị nâng cao chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng cá nhân tại PGD Tôn Đức Thắng Ngân hàng TMCP An Bình chi nhánh Hà Nội.
SV: Trần Thị Thu Hường GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Mai Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2.1 MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA, KHÁI NIỆM VỀ CHẤT LƯỢNG, QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG.1 Khái niệm về chất lượng. Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về chất lượng. Mỗi khái niệm đều có những cơ sở khoa học nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế.
Đứng trên những góc độ khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ người sản xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm. Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Chẳng hạn, theo quan điểm của Liên Xô (cũ) thì: “Chất lượng là tập hợp những tính chất của sản phẩm chế định tính thích hợp của sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của nó”. Hoặc định nghĩa khác: “Chất lượng là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó”.
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với tập hợp của các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã xác định trước. Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.Theo Philip Crosby định nghĩa: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”, Hay theo tiến sĩ W.Edwards Deming thì: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng”… Để giúp cho hoạt đông quản lý chất lượng trong các danh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000, phần thuật ngữ ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa chất lượng: Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. SV: Trần Thị Thu Hường GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Mai Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại 2.2 Khái niệm về quản trị chất lượng Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quản trị chất lượng: Trong các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản trị chất lượng là hệ thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm những hàng hoá có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng.
Giáo sư, tiến sĩ Kaoro Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản trị chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản trị chất lượng có nghĩa là triểm khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng, định nghĩa quản trị chất lượng như sau: Quản trị chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoặch hành động. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000 cho rằng: Quản trị chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoặch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng.1: Mô hình hoá khái niệm quản trị chất lượng Chính sách chất lượng Quản trị chất lượng Mục tiêu chất lượng Hoặch định Kiểm soát chất Đảm bảo chất Cải tiến chất chất lượng lượng lượng lượng SV: Trần Thị Thu Hường GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Mai Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại 2.2 QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2.1: Dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ 2.1: Khái niệm dịch vụ.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, nhưng tựu chung lại có mấy cách hiểu phổ biến sau: Theo cách hiểu phổ biến: Dịch vụ là một hoạt động mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng, với tài sản khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Theo cách hiểu khác: Dịch vụ là một hoạt động xã hội mà hoạt động này đã xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của công ty cung ứng dịch vụ. Theo ISO 9000:2000: Dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần được tiến hành tại nơi tương giao giữa nhà cung cấp và khách hàng và thường không hữu hình.
Dịch vụ bao gồm 3 bộ phận hợp thành: Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ. Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ căn bản và làm tăng giá trị của dịch vụ căn bản. Dịch vụ toàn bộ bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là vô hình (hay phi vật chất): Người ta không thể nhìn thấy, không nếm được, không nghe được, không cầm được dịch vụ trước khi tiêu dùng chúng. Dịch vụ không thể chia cắt được: Sản xuất dịch vụ không thể sản xuất sẵn để vào kho, sau đó mới tiêu thụ mà quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời.
Dịch vụ có tính không ổn định: Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (như người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng). SV: Trần Thị Thu Hường GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Mai Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại Dịch vụ có tính không lưu giữ được: Dịch vụ không lưu giữ được. Do đặc điểm này, nhiều công ty cung ứng dịch vụ thường áp dụng các biện pháp điều hoà tốt nhất về cung và cầu theo thời gian.
Dịch vụ có tính không chuyển giao quyền sở hữu: Dịch vụ không thể chuyển giao quyền sở hữu cho bất kỳ ai khác.2 Chất lượng dịch vụ và đo lường chất lượng dịch vụ 2.1: Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ được đo bằng sự thoả mãn khách hàng, bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được. Nếu chất lượng mong đợi (A) thấp hơn chất lượng đạt được (B) thì chất lượng là tuyệt hảo; nếu chất lượng mong đợi lớn hơn chất lượng đạt được thì chất lượng không đảm bảo, nếu chất lượng mong đợi bằng chất lượng đạt được thì chất lượng đảm bảo. Kỳ vọng (sự mong đợi) của khách hàng tạo nên từ 4 nguồn. Thứ nhất, thông tin truyền miệng Thứ hai, nhu cầu cá nhân Thứ ba, kinh nghiệm đã trải qua Thứ tư, Quảng cáo, khuyếch trương.
Trong bốn nguồn trên thì chỉ có nguồn thứ 4 là nằm trong kiểm soát của công ty. Đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ, thực chất là giảm và xoá bỏ các khoảng cách Giữa dịch vụ mong đợi và nhận thức của quản lý về các mong đợi của khách hàng; Giữa nhận thức của quản lý về mong đợi của khách hàng và biến nhận thức thành các thông số chất lượng dịch vụ; Giữa biến nhận thức thành các thông số chất lượng dịch vụ và cung ứng dịch vụ; Giữa cung ứng dịch vụ và thông tin bên ngoài đến khách hàng Giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ được thụ hưởng.2 Đo lường chất lượng dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ là vô hình, chất lượng được xác định bởi khách hàng, chứ không phải người cung ứng - người bán, khách hàng đánh giá chất lượng SV: Trần Thị Thu Hường GVHD: ThS. Trần Thị Thanh Mai Luan van Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại một dịch vụ được cung ứng thông qua đánh giá người của công ty đứng ra phục vụ và qua cảm giác chủ quan của mình.
Cùng một loại dịch vụ nhưng nhân viên khác nhau, đối với từng khách hàng đánh giá họ cũng khác nhau. Từ những kết quả nghiên cứu sâu rộng về hành vi và đánh giá của khách hàng, học giả Mỹ, ông Zeitham V.B Leonard đã đưa ra nền tảng vững chắc để tìm hiểu các đặc tính chất lượng phục vụ. Các tác giả nói trên đã tóm tắt danh sách 10 yếu tố của mình thành 5 tiêu thức khái quát hơn. Họ gọi tập hợp này là “serqual” (service quality = chất lượng phục vụ), nhưng để dễ ghi nhớ người ta dùng từ viết tắt từ các chữ cái đầu là “RATEX”.
Độ tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách đáng tin cậy và chính xác. Sự đảm bảo (Assurance): Kiến thức và tác phong của nhân viên phục vụ, cũng như khả năng gây lòng tin và sự tín nghiệm của họ. Tính hữu hình (Tangibles): Điều kiện vật chất, thiết bị và hình thức bên ngoài của nhân viên phục vụ. Sự thấu cảm (Empathy): Quan tâm, lưu ý cá nhân đối với từng khách hàng.
Trách nhiệm (Responsiveness): Sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ mau lẹ. Theo 5 tiêu thức trên, tuỳ lĩnh vực dịch vụ cụ thể, người ta cố gắng xác định chỉ tiêu để đo lường chất lượng dịch vụ bằng con số cụ thể.3 Quản trị chất lượng dịch vụ 2.1 Nội dung của quản trị chất lượng dịch vụ ISO 9000 đã xác định “Quản trị chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng những những phương tiện như lập kế hoạch, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”.