Tổng quan nghiên cứu
Ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn. Năm 2016, tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của toàn tỉnh đạt 8.476,6 tỷ đồng theo giá so sánh 2010, ghi nhận mức tăng trưởng 1,7% so với năm 2015. Trong cơ cấu giá trị sản xuất, ngành trồng trọt đóng góp 3.527,3 tỷ đồng, ngành chăn nuôi đạt 3.399,6 tỷ đồng, thủy sản đạt 1.133 tỷ đồng và dịch vụ nông nghiệp đạt 395,8 tỷ đồng. Đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc này có sự đóng góp trực tiếp từ hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật của hệ thống khuyến nông các cấp. Tuy nhiên, trước yêu cầu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng công nghệ cao và mục tiêu đưa Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống về kỹ năng thực hành và phương pháp tiếp cận cộng đồng.
Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Đình Hải tập trung nghiên cứu thực trạng và xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2014 - 2016, định hướng đến năm 2020. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhân lực khuyến nông; đánh giá đúng thực trạng chất lượng cán bộ; phân tích các nhân tố tác động; và đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao. Nghiên cứu tiến hành khảo sát chuyên sâu tại 3 huyện đại diện cho các vùng sinh thái đặc trưng của tỉnh là Quế Võ, Tiên Du (phía Bắc sông Đuống) và Gia Bình (phía Nam sông Đuống). Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao năng lực chuyển giao khoa học kỹ thuật, tối ưu hóa hiệu quả của 50 mô hình trình diễn nông nghiệp và nâng cao hiệu quả làm việc cho 50 cán bộ khuyến nông trên địa bàn tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu áp dụng lý thuyết quản trị nguồn nhân lực trong khu vực công kết hợp với lý thuyết quản lý chất lượng toàn diện của Juran, xem chất lượng cán bộ là sự phù hợp cao nhất với nhu cầu phát triển của nền nông nghiệp hiện đại. Đề tài vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ phải dung hòa cả hai yếu tố “đức” và “tài”, trong đó phẩm chất đạo đức là gốc rễ định hướng cho năng lực chuyên môn phát huy hiệu quả. Đồng thời, khung lý thuyết tích hợp các nguyên tắc khuyến nông theo quy định tại Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ, nhấn mạnh vai trò của khuyến nông nhà nước và khuyến nông xã hội hóa trong việc thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông).
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông được xây dựng xoay quanh 3 trụ cột khái niệm chính: thể lực, trí lực và tâm lực. Trong đó, trí lực thể hiện qua trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn kỹ thuật nông nghiệp đa ngành và sự am hiểu chính sách pháp luật. Kỹ năng làm việc được đo lường qua năng lực lập kế hoạch hoạt động, kỹ năng truyền thông đại chúng, kỹ năng tổ chức tập huấn và khả năng giải quyết các vấn đề phát sinh trên đồng ruộng. Tâm lực phản ánh tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, sự gắn bó và mức độ tận tụy hỗ trợ bà con nông dân vượt qua khó khăn trong sản xuất.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 2012 - 2016 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm Khuyến nông tỉnh, niên giám thống kê và các công trình khoa học chuyên ngành. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016 - 2017 thông qua phiếu điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và phỏng vấn bán cấu trúc các hộ nông dân tại cơ sở.
Cỡ mẫu khảo sát được lựa chọn bao gồm 110 đối tượng, chia thành hai nhóm đại diện rõ rệt. Nhóm nông dân gồm 60 hộ gia đình tại 3 huyện Quế Võ, Tiên Du và Gia Bình, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích với các tiêu chí: quy mô sản xuất từ trung bình trở lên, đại diện cho cả hộ đã từng tham gia và hộ chưa từng tham gia các chương trình khuyến nông. Nhóm cán bộ gồm 50 người, trong đó có 45 cán bộ khuyến nông trực tiếp công tác tại 3 huyện khảo sát và 5 cán bộ quản lý tại Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh và tổng hợp là nhằm đối chiếu chính xác giữa sự tự đánh giá của cán bộ với mức độ hài lòng thực tế của nông dân, từ đó nhận diện rõ các điểm nghẽn về năng lực thực thi công vụ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, trình độ chuyên môn của cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh đạt tỷ lệ chuẩn hóa học vấn rất cao nhưng lại mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu chuyên ngành đào tạo. Số liệu thống kê cho thấy có khoảng 95% cán bộ khuyến nông toàn tỉnh sở hữu trình độ đại học và trên đại học, trong khi tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chỉ chiếm gần 5%. Tuy nhiên, về cơ cấu ngành năm 2016, số cán bộ có chuyên môn trồng trọt chiếm ưu thế áp đảo với 130 người (tương đương 47,1%), chuyên ngành chăn nuôi - thú y chiếm 36,96%, lâm nghiệp chiếm 6,88% và các chuyên ngành kỹ thuật khác chỉ chiếm 9,06%. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt cán bộ am hiểu chuyên sâu về kinh tế nông nghiệp, công nghệ chế biến và thủy sản tại cấp cơ sở.
Thứ hai, các hoạt động xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ghi nhận sự gia tăng vượt bậc về cả số lượng lẫn quy mô hộ tham gia. Năm 2014, toàn tỉnh triển khai 45 mô hình trình diễn với 301 hộ tham gia; đến năm 2016, con số này đã tăng lên 50 mô hình (tăng 11,1%) với tổng số 387 hộ gia đình trực tiếp thực hiện (tăng trưởng 28,57% so với năm 2014). Tỷ lệ các mô hình đạt kết quả thành công và được nhân rộng ra diện rộng đạt trên 85%, góp phần thay đổi tập quán canh tác lạc hậu và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra khoảng trống lớn về các kỹ năng mềm bổ trợ trong quá trình tác nghiệp thực tế. Mặc dù 90% cán bộ nắm vững kiến thức lý thuyết chuyên ngành, nhưng chỉ có khoảng 40% cán bộ tự đánh giá thành thạo kỹ năng lập kế hoạch hoạt động độc lập và kỹ năng thuyết trình, nói trước đám đông. Tần suất viết tin bài, báo cáo kỹ thuật định kỳ còn thấp khi có tới hơn 35% cán bộ khuyến nông cơ sở thừa nhận gặp khó khăn trong việc biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật ngắn gọn, dễ hiểu cho người nông dân.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên phản ánh một nghịch lý phổ biến trong công tác đào tạo nhân lực nông nghiệp: trình độ bằng cấp chính quy rất cao nhưng năng lực tác nghiệp thực tế chưa tương xứng. Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống giáo dục đại học trước đây tập trung nhiều vào kiến thức lý thuyết hàn lâm đơn ngành, thiếu vắng các học phần về phương pháp khuyến nông, kỹ năng sư phạm giáo dục người lớn tuổi và kỹ năng truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như định mức phụ cấp cơ sở còn thấp và trang thiết bị làm việc thiếu thốn đã làm giảm động lực phấn đấu của một bộ phận cán bộ trẻ.
Để làm rõ các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu chuyên ngành đào tạo năm 2016 (lĩnh vực trồng trọt chiếm ưu thế 47,1%) và bảng tổng hợp so sánh quy mô tham gia mô hình trình diễn giai đoạn 2014 - 2016 (tăng từ 301 lên 387 hộ). Việc trình bày bảng số liệu đối chiếu giữa mức độ tự đánh giá của 50 cán bộ và kết quả chấm điểm từ 60 hộ nông dân sẽ làm nổi bật sự chênh lệch trong đánh giá kỹ năng dân vận và kỹ năng tư vấn dịch vụ.
Khi so sánh với kinh nghiệm thực tế tại tỉnh Phú Thọ (nơi mức phụ cấp cho cán bộ khuyến nông xã chỉ từ 550 đến 750 nghìn đồng/tháng dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân sự và phải kiêm nhiệm) và mô hình huyện Hòa Vang tại thành phố Đà Nẵng (nơi 100% cán bộ xã được hưởng phụ cấp theo lương cơ sở và đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ), Bắc Ninh có lợi thế vượt trội về tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học nhưng cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách đãi ngộ tương xứng. Đồng thời, việc tiếp thu mô hình mạng thông tin điện tử khuyến nông EI-net của Nhật Bản và mạng lưới 7.105 Trung tâm chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp liên xã của Thái Lan sẽ là chìa khóa then chốt giúp khuyến nông Bắc Ninh hiện đại hóa phương thức phục vụ người dân.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, rà soát quy hoạch và kiện toàn mô hình tổ chức hệ thống khuyến nông từ cấp tỉnh đến tận cơ sở. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần thực hiện chuẩn hóa biên chế, bảo đảm 100% các xã, phường có sản xuất nông nghiệp được bố trí tối thiểu 1 khuyến nông viên chuyên trách có trình độ từ đại học trở lên trong giai đoạn 2018 - 2020.
Thứ hai, đổi mới toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh cần định kỳ tổ chức các khóa tập huấn thực chiến theo tiêu chuẩn kỹ năng "3 biết" (biết làm thực tế trên đồng ruộng, biết nói trước tập thể nông dân, biết viết báo cáo và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật), đặt mục tiêu đến năm 2020 có 100% cán bộ được cấp chứng chỉ bồi dưỡng kỹ năng khuyến nông hiện đại và thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin.
Thứ ba, tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật tác nghiệp. Hằng năm, ngân sách tỉnh cần ưu tiên phân bổ tăng thêm từ 15% đến 20% nguồn kinh phí sự nghiệp nông nghiệp cho các trạm khuyến nông huyện để mua sắm vali dụng cụ chẩn đoán nhanh sâu bệnh hại, thiết bị đo độ ẩm đất, máy chiếu đa năng và phương tiện di chuyển phục vụ công tác bám sát đồng ruộng.
Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khuyến nông và đa dạng hóa dịch vụ chuyển giao công nghệ. Các cơ quan quản lý cần chủ động liên kết với các doanh nghiệp sản xuất giống, phân bón hữu cơ, thuốc sinh học và hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao, thí điểm triển khai các hợp đồng dịch vụ tư vấn kỹ thuật có thu, từng bước giảm bớt gánh nặng chi tiêu từ ngân sách nhà nước.
Thứ năm, hoàn thiện cơ chế chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Các cấp có thẩm quyền cần cụ thể hóa chính sách thu hút nhân tài theo Quyết định số 33/2012/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh, nâng mức phụ cấp trách nhiệm hàng tháng cho khuyến nông viên cơ sở tối thiểu bằng mức lương cơ sở nhà nước, đồng thời thực hiện đầy đủ chế độ bảo hiểm y tế nhằm giúp cán bộ yên tâm cống hiến lâu dài.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà quản lý và cán bộ hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Ninh cùng các địa phương lân cận. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để xây dựng các đề án quy hoạch nhân lực, cải cách chế độ phụ cấp và tối ưu hóa hệ thống tổ chức ngành nông nghiệp cấp tỉnh.
Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Phát triển nông thôn và Quản lý công tại các học viện, trường đại học khối kinh tế - nông nghiệp. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp giữa lý thuyết quản trị nhân lực với kỹ thuật phân tích số liệu sơ cấp, thứ cấp trong khu vực sự nghiệp công lập.
Thứ ba, lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã, cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp và các tổ chức đoàn thể cơ sở. Luận văn mang lại góc nhìn thực tiễn về cách thức phối hợp với đội ngũ khuyến nông viên, nâng cao hiệu quả tuyên truyền vận động nhân dân tham gia các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tại địa phương.
Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Công trình giúp các đơn vị nắm bắt rõ đặc điểm hành vi của nông dân và năng lực của lực lượng khuyến nông địa phương, từ đó thiết kế các dự án hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản đạt hiệu quả cao nhất.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Thực trạng trình độ học vấn của cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh hiện nay như thế nào?
Trả lời: Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh đạt mức rất cao khi có khoảng 95% cán bộ sở hữu bằng đại học và trên đại học, trong khi trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chỉ chiếm gần 5%. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo còn mất cân đối nghiêm trọng khi nhóm ngành trồng trọt chiếm tới 47,1%, dẫn đến sự thiếu hụt chuyên gia về kinh tế nông nghiệp và chế biến nông sản.
Câu hỏi 2: Các chương trình xây dựng mô hình trình diễn khuyến nông tại Bắc Ninh mang lại kết quả ra sao?
Trả lời: Giai đoạn 2014 - 2016, số lượng mô hình trình diễn toàn tỉnh tăng từ 45 lên 50 mô hình, thu hút số hộ nông dân tham gia tăng nhanh từ 301 lên 387 hộ, tương đương mức tăng 28,57%. Các mô hình này đóng vai trò quyết định trong việc chuyển giao giống mới và kỹ thuật thâm canh, nâng tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2016 lên 8.476,6 tỷ đồng.
Câu hỏi 3: Đâu là những điểm yếu lớn nhất của đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh theo kết quả khảo sát?
Trả lời: Hạn chế lớn nhất nằm ở kỹ năng thực hành và kỹ năng bổ trợ chứ không phải kiến thức lý thuyết. Khảo sát chỉ ra có tới 60% cán bộ khuyến nông cơ sở còn hạn chế về kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng lập kế hoạch độc lập và kỹ năng viết tin bài tuyên truyền, làm giảm tính thuyết phục khi vận động bà con áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới.
Câu hỏi 4: Những bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể vận dụng vào thực tiễn tỉnh Bắc Ninh?
Trả lời: Bắc Ninh có thể áp dụng mô hình 7.105 Trung tâm chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp cấp liên xã của Thái Lan để tạo không gian sinh hoạt kỹ thuật gần gũi với nông dân, đồng thời học tập hệ thống mạng thông tin mở rộng EI-net của Nhật Bản nhằm số hóa toàn bộ tài liệu kỹ thuật, giúp người dân tra cứu thông tin thị trường và sâu bệnh kịp thời qua internet.
Câu hỏi 5: Giải pháp căn cơ nào giúp nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ khuyến nông cơ sở?
Trả lời: Giải pháp mấu chốt là thực hiện đồng bộ giữa việc đào tạo kỹ năng thực hành "3 biết" (biết làm, biết nói, biết viết) và hoàn thiện chính sách đãi ngộ theo Nghị định số 02/2010/NĐ-CP. Việc tăng mức phụ cấp hàng tháng tương đương mức lương cơ sở và trang bị đầy đủ phương tiện tác nghiệp sẽ tạo động lực quyết định để cán bộ gắn bó lâu dài với cơ sở.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, trong nước về giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Đánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh Bắc Ninh với ưu thế vượt trội là khoảng 95% có trình độ đại học trở lên, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn về sự thiên lệch cơ cấu chuyên ngành trồng trọt (47,1%) và sự thiếu hụt kỹ năng mềm.
- Khẳng định vai trò to lớn của khuyến nông thông qua sự phát triển của 50 mô hình trình diễn và 387 hộ tham gia, đóng góp trực tiếp vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp 8.476,6 tỷ đồng của tỉnh Bắc Ninh năm 2016.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi về quy hoạch nhân sự, bồi dưỡng kỹ năng "3 biết", tăng nguồn kinh phí đầu tư từ 15% đến 20%, đẩy mạnh xã hội hóa và hoàn thiện chính sách đãi ngộ cho cán bộ đến năm 2020.
- Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo thực chứng có giá trị cao cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu.
Để nhanh chóng đưa các khuyến nghị khoa học vào thực tiễn sản xuất, các cơ quan ban ngành tỉnh Bắc Ninh cần khẩn trương ban hành kế hoạch hành động cụ thể, ưu tiên phân bổ nguồn lực thỏa đáng nhằm chuẩn hóa toàn diện năng lực đội ngũ khuyến nông viên. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý quan tâm có thể tìm đọc toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đình Hải để tiếp cận chi tiết hệ thống bảng biểu số liệu và giải pháp chuyên sâu.