phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt và nội dung tham khảo, luận văn đƣợc bố cục bao gồm ba phần chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về chất lƣợng dịch vụ và dịch vụ thanh toán trực tuyến qua thẻ. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ thanh toán trực tuyến tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp cải thiện chất lƣợng dịch vụ thanh toán trực tuyến tại Ngân hàng TMCP đầu tƣ và phát triển Việt Nam - chi nhánh Quảng Ninh. xi CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ THANH TOÁN TRỰC TUYẾN 1.1 Tổng quan về chất lƣợng dịch vụ 1.1 Khái niệm dịch vụ Theo tiêu chuẩn ISO 9004-2.1991E: Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tƣơng tác giữa ngƣời cung cấp và khách hàng, cũng nhƣ nhờ các hoạt động của ngƣời cung c ấp để đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Hay d ịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng những sản phẩm vật chất, nhƣng bằng tính hữu ích của chúng và có giá tr ị kinh tế nhƣ thƣơng mại, y t ế, giáo dục, du lịch… 1.2 Khái niệm chất lượng Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO: “Chất lƣợng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.3 Khái niệm chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman & cộng sự (1988) cho rằng chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách chênh lệch giữa sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả khi sử dụng dịch vụ. Có nhiều cách biểu hiện khác nhau về chất lƣợng dịch vụ nhƣng theo quan điểm hƣớng đến khách hàng thì chất lƣợng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thỏa mãn nhu cầu của họ. Do đó, chất lƣợng dịch vụ đƣợc xác định bởi khách hàng, theo mong muốn và yêu cầu của khách hàng. Chất lƣợng dịch vụ có tính chất tƣơng đối do cùng một mức độ chất lƣợng dịch vụ sẽ đƣợc đánh giá khác nhau bởi các khách hàng khác nhau và ngay cả bởi cùng một khách hàng ở những giai đoạn khác nhau.2 Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ thuần tuý có các đặc trƣng phân biệt so với hàng hoá thuần tuý.
Đó là các đặc trƣng: tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu. Chính các đặc trƣng này sẽ dẫn đến sự khác biệt của nội dung Marketing dịch vụ so với Marketing hàng hoá hữu hình. 1 Tính vô hình: Các dịch vụ đều vô hình. Không giống nhƣ các sản phẩm vật chất khác, chúng không thể nhìn thấy đƣợc, không nếm đƣợc, không cảm thấy đƣợc, không nghe thấy đƣợc hay không ngửi thấy đƣợc trƣớc khi mua chúng.
Một ngƣời đi cắt tóc không thể nhìn thấy kết quả trƣớc khi mua dịch vụ đó. Một ngƣời đi máy bay không thể biết trƣớc đƣợc chuyến bay đó có an toàn hạ cánh đúng lịch trình, và có đƣợc phục vụ chu đáo hay không cho tới khi bƣớc ra khỏi sân bay. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, ngƣời mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất lƣợng của dịch vụ, họ sẽ suy diễn về chất lƣợng của dịch vụ từ địa điểm, con ngƣời, trang thiết bị, tài liệu thông tin uy tín và giá cả mà họ thấy. Vì vậy, nhiệm vụ của ngƣời cung ứng dịch vụ là vận dụng những bằng chứng để làm cho cái vô hình trở thành hữu hình, cố gắng nêu lên đƣợc những bằng chứng vật chất và hình tƣợng hoá món hàng trừu tƣợng của mình.
Tính không chia cắt được: Dịch vụ thƣờng sản xuất và tiêu dùng một cách không đồng thời hẳn với hàng hoá vật chất, sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới dến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Còn trong trƣờng hợp dịch vụ, thì ngƣời cung ứng dịch vụ và khách hàng cùng có mặt đồng thời tham gia vào quá trình dịch vụ, nên sự giao tiếp giữa hai bên tạo ra tính khác biệt của Marketing dịch vụ. Tính không ổn định: Chất lƣợng dịch vụ thƣờng không xác định vì nó phụ thuộc vào ngƣời thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Cuộc phẫu thuật do một giáo sƣ đầu ngành thực hiện sẽ có chất lƣợng cao hơn nhiều so với một bác sĩ ngoại khoa mới vào nghề.
Và các cuộc phẫu thuật riêng của giáo sƣ cũng sẽ khác nhau tuỳ theo tình trạng sức khoẻ và trạng thái tinh thần của ông ta trong lúc tiến hành ca mổ. Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể lƣu kho đƣợc. Nếu máy bay vắng khách thì giờ đến vẫn phải cất cánh với nửa khoang ghế trống. Trong khi nhu cầu về dịch vụ thƣờng dao động rất lớn, có những thời điểm rất đông khách (trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm) thì ngƣời cung ứng dịch vụ phải có nhiều phƣơng tiện cung ứng lên gấp bội để đảm bảo phục vụ trong giờ cao điểm.
Ngƣợc lại, khi vắng khách vẫn phải tốn các chi phí cơ bản nhƣ trả lƣơng cho nhân viên, thuê địa điểm… Để khắc phục đƣợc vƣớng mắc này và cân đối cung cầu tốt hơn, có thể định giá phân biệt, hệ thống đặt chỗ trƣớc, thuê nhân viên bán thời gian… 1.3 Mô hình phân tích chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman Để đánh giá chất lƣợng dị (1988), đã đƣa ra mô hình 5 khoảng cách với thang đo chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL. 2 Khoảng cách 1: Giữa dịch vụ mong đợi và nhận thức của nhà quản lý về các mong đợi của khách hàng. Khoảng cách 2: Giữa nhận thức của nhà quản lý về các mong đợi của khách hàng và biến nhận thức thành các thông số của chất lƣợng dịch vụ. Khoảng cách 3: Giữa biến nhận thức thành các thông số của chất lƣợng dịch vụ và cung ứng dịch vụ.
Khoảng cách 4: Giữa cung ứng dịch vụ và thông tin bên ngoài đến. Khoảng cách 5: Giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ thụ hƣởng Parasuraman cho rằng chất lƣợng dịch vụ là hàm số của khoảng cách thứ 5. Khoảng cách thứ 5 này phụ thuộc vào các khoảng cách trƣớ ảng cách 1, 2, 3, 4.1: Mô hình năm khoảng cách chất lƣợng dịch vụ Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) 1. Các thành phần chất lƣợng dịch vụ Mô hình chất lƣợng dịch vụ của Prasuraman & cộng sự (1985) cho ta bức tranh tổng thể về chất lƣợng dịch vụ.
Parasuraman & cộng sự (1985) cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lƣợng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể mô hình thành 3 10 thành phần. Mô hình này có ƣu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhƣợc điểm là phức tạp trong việc đo lƣờng do có quá nhiều thành phần, một số thành phần không đạt đƣợc giá trị phân biệt, bảng câu hỏi sẽ dài, gây khó hiểu cho ngƣời trả lời, vì thế có thể ảnh hƣởng tới chất lƣợng dữ liệu thu thập, dẫn đến giảm độ tin cậy và tính không ổn định của các biến quan sát. Để khắc phục nhƣợc điểm của thang đo với 10 thành phần nói trên, sau nhiều lần tiến hành kiểm định và điều chỉnh mô hình, năm 1988, Parasuraman và các cộng sự đã hiệu chỉnh lại và hình thành mô hình mới gồm 5 thành phần.
Đây là mô hình nghiên cứu chất lƣợng dịch vụ phổ biến và đƣợc áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu marketing. Mô hình SERVQUAL đƣợc xây dựng dựa trên quan điểm chất lƣợng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng/mong đợi (Expectations) và các giá trị khách hàng cảm nhận đƣợc (Perceptions). Cụ thể: Chất lƣợng dịch vụ = Mức độ cảm nhận - Giá trị kỳ vọng Hình 1.2: Mô hình SERVQUAL Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1988) Theo mô hình này, chất lƣợng dịch vụ bao gồm 5 thành phần cơ bản với 22 thuộc tính, đó là: 1. Tin cậy (reliability): Thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
4 - Khi ngân hàng hứa làm điều gì đó vào thời gian cụ thể thì họ sẽ thực hiện. - Ngân hàng luôn quan tâm chân thành và làm yên lòng khách hàng khi có vấn đề xảy ra với họ. - Ngân hàng thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên. - Ngân hàng luôn cung cấp dịch vụ đúng thời gian nhƣ họ đã hứa.
- Ngân hàng luôn quan tâm đến việc giữ gìn tiếng tăm của mình. Đáp ứng/Tinh thần trách nhiệm (resposiveness): Thể hiện qua sự mong muốn, sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. - Ngân hàng cho khách hàng biết khi nào họ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Nhân viên của ngân hàng luôn nhanh chóng phục vụ dịch vụ cho khách hàng.
- Nhân viên của ngân hàng luôn sẵn lòng giúp đỡ khách hàng. - Nhân viên ngân hàng không bao giờ quá bận rộn để không thể đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Năng lực phục vụ/đảm bảo (assurance): Thể hiện qua trình độ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng. - Khách hàng có thể tin tƣởng mọi hành vi của nhân viên ngân hàng.
- Khách hàng cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với ngân hàng. - Nhân viên công ty ngân hàng luôn niềm nở, lịch sự và nhã nhặn với khách. - Nhân viên luôn đƣợc ngân hàng cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề để thực hiện tốt công việc của họ. Đồng cảm (empathy): Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng.
- Ngân hàng luôn dành sự chú ý đến từng cá nhân khách hàng. - Nhân viên ngân hàng luôn quan tâm đến khách hàng. - Nhân viên ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng. - Nhân viên ngân hàng luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu.
- Ngân hàng làm việc vào những giờ thuận tiện cho khách hàng của họ. Phương tiện hữu hình (tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. - Trang thiết bị của ngân hàng rất hiện đại. - Cơ sở vật chất của ngân hàng rất bắt mắt.
- Nhân viên của ngân hàng ăn mặc lịch sự, tƣơm tất. - Cơ sở vật chất của ngân hàng có hình thức, kiểu dáng hấp dẫn và liên quan đến dịch vụ cung cấp. 5 Đây là 22 thuộc tính do Parasuraman đƣa ra.