CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Theo cuốn "Retail lending" (2021): "Tín dụng bán lẻ được định nghĩa là tín dụng đóng và mở dành cho các cá nhân với mục đích chi tiêu hộ gia đình, gia đình và các chỉ tiêu cá nhân khác. Điều này bao gồm các khoản vay tiêu dùng, thẻ tín dụng, khoản vay mua ô tô, khoản vay dành cho sinh viên và khoản vay cho các cá nhân được bảo đảm bằng nhà ở cá nhân của họ, bao gồm khoản vay thế chấp lần đầu, vốn chủ sở hữu nhà và các khoản vay sửa chữa nhà".
Như vậy, tín dụng KHCN của NHTM là một bộ phận của tín dụng NHTM, do đó có thể hiểu tín dụng KHCN là mối quan hệ chuyển giao vốn giữa ngân hàng và KHCN trong nền kinh tế, trong một thời hạn nhất định với một khoản chỉ phí nhất định. Trong đó, KHCN có thể hiểu là một cá thể hoặc hộ gia đình. Tín dụng khách hàng cá nhân là việc ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trước đây, các ngân hàng ít quan tâm đến đối tượng khách hàng là cá nhân vì món nợ vay thường rất nhỏ, mà thường hướng tới đối tượng khách hàng doanh nghiệp.
Nhưng ngày nay, các ngân hàng đã quan tâm nhiều hơn đến đối tượng này, vì lợi nhuận thu được từ hoạt động này sẽ là không nhỏ nếu như các ngân hàng thực hiện tốt công tác cho vay và công tác quản lý khoản vay. Các thủ tục cho vay ngày càng trở nên gọn nhẹ hơn, đáp ứng được nhiều hơn những yêu cầu mà khách hàng đưa ra. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng cũng có 6 các đặc trưng sau: Thứ nhất, là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin Thứ hai, là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn Thứ ba, là sự hoàn trả cả lãi và gốc, sự chuyển nhượng một lượng giá trị chỉ mang tính chất tạm thời. Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải trả lãi cho người gửi tiền, trả lương cho nhân viên và các chi phí hoạt động khác, bên cạnh đó còn phải đảm bảo cho ngân hàng có một khoản lợi nhuận nhất định.
Ngoài các đặc điểm chung về tín dụng thì hoạt động tín dụng KHCN tại ngân hàng có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các hoạt động và loại hình tín dụng khác bao gồm: +) Đối tượng: là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thường xuyên và chịu sự ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội. +) Quy mô: hầu hết các gói tín dụng KHCN có quy mô nhỏ so với tài sản ngân hàng nhưng số lượng các gói tín dụng lớn do đối tượng của các khoản tín dụng là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dung rất đa dạng. Quy mô vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của khách hàng có nhu cầu.
Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan hơn về tương lai, vì vậy nên họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở hiện tại nên sẽ tăng quy mô khoản vay và số lượng vay cũng tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì KHCN thường có xu hướng giảm tiêu dùng cùng với giảm đầu tư vào sản xuất kinh 7 doanh, thay vào đó KHCN sẽ tăng cường tiết kiệm và vì vậy sẽ hạn chế đi vay ở Ngân hàng. +) Mục đích: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân, hộ gia đình. +) Lãi suất: quy mô của các khoản tín dụng thường nhỏ (trừ các gói tín dụng để mua bất động sản), dẫn đến chi phí cho khoản tín dụng (về nhân lực đi thẩm định, công tác quản lý các khoản tín dụng, thời gian…) cao đồng thời rủi ro của các khoản tín dụng này cũng rất cao.
Do đó, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các gói tín dụng khác của Ngân hàng. Hiện nay thì lãi suất đối với KHCN thông thường cao hơn lãi suất đối với doanh nghiệp từ 1,2 đến 1,5 lần. Từ trước tới nay, các gói tín dụng KHCN vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất gần như cố định. Điều này có thể được hiểu là các khoản này đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các gói tín dụng khác hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện của thị trường, như vậy với các gói tín dụng KHCN thì ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên.
+) Rủi ro tín dụng: Các gói tín dụng KHCN thường có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng. Sở dĩ như vậy do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Xuất phát từ bản thân khách hàng có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ do sự biến động về tình trạng cá nhân riêng. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu kém, thiếu kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trường hạn chế.
Vì vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi khách hàng bị thất nghiệp, tai nạn, phá sản… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các KHCN cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để đáp ứng được những yêu cầu của các khoản tín dụng thì nhiều khách hàng che giấu các thông tin 8 về tình hình sức khỏe, công việc tương lai khiến cho các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi quyết định cho vay. +) Hạn mức tín dụng KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay, hạn mức tín dụng KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của tài sản đảm bảo. Đối với các hình thức cấp tín dụng, các ngân hàng thường quy định các hạn mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý.
Để có thể xác định được hạn mức tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng, các ngân hàng phải định giá chính xác tài sản đó. Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm số tiền vay của khách hàng, nếu định giá quá cao sẽ làm tăng rủi ro đến cho ngân hàng. Vai trò cùa tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng cá nhân đóng góp lớn cho sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. • Đối với ngân hàng - Làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM thu hút thêm được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt về biểu tượng và uy tín của ngân hàng.
- Gia tăng khả năng sinh lợi của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Từ đó cải thiện được tình hình tài chính của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong quá trình cạnh tranh. - Củng cố mối quan hệ xã hội của ngân hàng. Điều đó cũng có ý nghĩa là tạo được môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động ngân hàng.
• Đối với khách hàng - Phục vụ cho nhu cầu cá nhân thiết yếu của cuộc sống như mua nhà, mua ô tô, học 9 tập, du lịch hay chi tiêu cấp bách như ốm đau, bệnh tật, ma chay, cưới hỏi. của các cá nhân trong xã hội góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. - Ngoài ra, tín dụng cá nhân còn là kênh các NHTM tài trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ gia đình giúp họ có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trong ngành. Với điều kiện cấp tín dụng đơn giản hơn đối với KHDN, tín dụng cá nhân phù hợp với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ, phù hợp với đặc tính và tập quán kinh doanh của đối tượng này.
• Đối với nền kinh tế xã hội - Đưa hoạt động tín dụng thích nghi với điều kiện kinh tế thị trường, phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường. - Là điều kiện để ngân hàng làm tốt chức năng trung tâm thanh toán. Nó tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế. - Góp phần tăng vòng quay vốn, huy động tới mức tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Làm giảm tối thiểu lượng tiền thừa trong lưu thông. Nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình đầu tư vốn phát huy tác dụng, tạo ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế. - Tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng theo xu hướng của thế giới để nhanh chóng nâng cao chất lượng tín dụng thúc đẩy sản xuất ở trong nước và hội nhập với hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.