Đặt vấn đề Đất nước và thành phố đang trong quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao có đầy đủ phẩm chất, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm, trong đó năng lực sử dụng ngoại ngữ là hành trang không thể thiếu của sinh viên khi bước vào môi trường làm việc hội nhập quốc tế. Chuẩn đầu ra (CĐR) ngoại ngữ là áp lực đồng thời là động lực để sinh viên xác định rõ ràng mục đích học tập ngay từ khi bước chân vào trường đại học, từ đó có kế hoạch chủ động học tập, nỗ lực phấn đấu để nắm bắt kiến thức và khẳng định năng lực của bản thân mình. Sinh viên tốt nghiệp đạt CĐR ngoại ngữ, cùng với kiến thức chuyên ngành được đào tạo tốt, sẽ là nguồn nhân lực có chất lượng cho thành phố và đất nước, góp phần khẳng định uy tín và thương hiệu của Nhà trường. Từ thực tế trên, có thể thấy việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ đáp ứng CĐR cho sinh viên chính quy trường Đại học Hải Phòng đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững, nhất là trong giai đoạn tự chủ đại học hiện nay.
Thực trạng về việc thực hiện CĐR ngoại ngữ cho sinh viên tại trường Đại học Hải Phòng (ĐHHP) Trường ĐHHP hiện đang áp dụng CĐR ngoại ngữ B1 nội bộ cho sinh viên chính quy và áp dụng thí điểm CĐR ngoại ngữ quốc tế B1 cho các ngành đào tạo trọng điểm trong năm học 2019 - 2020. Dưới sự chỉ đạo sáng suốt và quyết liệt của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường, Khoa Ngoại ngữ đã xây dựng lộ trình thực hiện CĐR ngoại ngữ trình độ B1 nội bộ và B1 quốc tế; đồng thời đầu tư chuẩn bị đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy. Việc thực hiện CĐR ngoại ngữ B1 quốc tế cho ngành đào tạo trọng điểm bước đầu cho kết quả khả quan. Tuy nhiên, quá trình thực hiện CĐR ngoại ngữ cho cả 2 đối tượng sinh viên trên bộc lộ nhiều bất cập.
Thứ nhất, sinh viên của chúng ta với nền tảng ngoại ngữ thấp, phần lớn ở cấp độ A1 và dưới A1 khi vào trường. Theo thời lượng học khuyến nghị, để đạt được chuẩn B1 các em cần ít nhất 350 giờ học. Trong khi đó, sinh viên các ngành không chuyên ngữ học 02 học phần ngoại ngữ với 08 tín chỉ (120 tiết = 100 giờ) được sắp xếp trong năm thứ nhất. Sinh viên các ngành trọng điểm được học 06 học phần ngoại ngữ với 18 tín chỉ (270 tiết = 225 giờ), dàn trải từ năm thứ nhất tới năm thứ 3.
Thời lượng đào tạo như vậy chưa thể giúp sinh viên tích lũy đủ năng lực ngôn ngữ đạt đúng chuẩn đề ra. 21 CEFR Cambridge English Exam Number of Hours Level (approximate) C2 Proficiency - previously known as C2 1,000-1,200 Cambridge English: Proficiency (CPE) C1 C1 Advanced - previously known as 700-800 Cambridge English: Advanced (CAE) B2 B2 First - previously known as Cambridge 500-600 English: First (FCE) B1 B1 Preliminary - previously known as 350-400 Cambridge English: Preliminary (PET) A2 A2 Key - previously known as Cambridge 180-200 English: Key (KET) A1 A1 Starters/Movers - previously known as 90-100 Cambridge English Starters/Movers (YLE) Thời lượng học khuyến nghị để đạt năng lực ngôn ngữ theo khung CEFR (Nguồn: support.org) Bên cạnh đó, nhận thức của sinh viên về yêu cầu đạt CĐR ngoại ngữ và tầm quan trọng của ngoại ngữ trong quá trình tuyển dụng và làm việc sau khi tốt nghiệp còn rất mờ nhạt, từ đó dẫn đến tình trạng sinh viên thiếu chủ động trong quá trình học ngoại ngữ, kết quả học tập không như mong đợi. Số lượng sinh viên chưa tốt nghiệp từ các khóa K15, 16, 17 vì còn nợ CĐR ngoại ngữ còn khá cao. Ngay cả những sinh viên đạt CĐR ngoại ngữ B1 nội bộ của Trường nhưng năng lực sử dụng ngoại ngữ thực tế nhìn chung còn hạn chế do sinh viên chưa nhận thức được rằng kỹ năng sử dụng ngoại ngữ là phải duy trì rèn luyện thường xuyên, liên tục thì mới có thể sử dụng thành thạo.
Thứ hai, cách thức tổ chức giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên chưa hiệu quả: sinh viên học ngoại ngữ theo lớp nhập học với nền tảng ngoại ngữ đa dạng, không đồng đều, sĩ số từ 50 tới hơn 70 sinh viên/ lớp. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ngoại ngữ như máy chiếu, loa, giáo trình và tài liệu tham khảo còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của giảng viên và sinh viên. Giải pháp thực hiện CĐR ngoại ngữ cho sinh viên tại trường Đại học Hải Phòng (ĐHHP) 3. Đổi mới phương thức đào tạo, tạo môi trường rèn luyện ngoại ngữ thường xuyên cho sinh viên Cách mạng công nghệ 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số đang mang tới sự mới mẻ và mở ra những cơ hội cho ngành giáo dục.
Ở đó, giáo dục trở thành một hệ sinh thái mà mọi người có thể cùng học tập và trao đổi mọi lúc, mọi nơi với các thiết bị được kết nối. Blended-learning được biết đến là một mô hình, một phương thức đào tạo hiện đại, đã được thử nghiệm thành công và áp dụng rộng rãi ở nhiều trường đại học trên thế 22 giới, trong đó có Việt Nam. Ưu thế lớn nhất của mô hình này là kết hợp các tài liệu giáo dục trực tuyến và cơ hội tương tác trực tiếp tại lớp học, tạo ra môi trường học tập mở, linh hoạt và cá nhân hóa. Sinh viên được giao khai thác các tài liệu trực tuyến trên các trang web hoặc ứng dụng.
Khi đến lớp, sinh viên dành thời gian để thảo luận, tương tác thực hành với sự giúp đỡ của giáo viên. Tuy nhiên, phương thức đào tạo này cũng phải đối mặt với những thách thức nhất định, rõ thấy nhất là yếu tố nền tảng công nghệ, kỹ năng tiếp cận công nghệ của giảng viên và sinh viên. Giảng viên, ngoài kiến thức chuyên môn, cần phải có các kỹ năng cần thiết về công nghệ, sử dụng các nguồn tài liệu trực tuyến, các ứng dụng web, điện thoại, mạng xã hội để kết nối và tạo ra không gian học tập cho sinh viên. Sinh viên cần được tư vấn, định hướng để xây dựng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo khi tham gia mô hình học tập Blended learning.
Nếu không tính đến những tác động của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin thì đây có thể coi là yếu tố then chốt, cùng với thái độ học tập nghiêm túc, sự hỗ trợ của giảng viên, kỹ năng học tập trực tuyến sẽ mang lại cho người học những trải nghiệm và sự tiến bộ vượt bậc từ phương pháp học tập hiện đại này. Kiến nghị với Nhà trường Nhà trường cần có những cơ chế, chính sách mang tính đồng bộ và lâu dài cho phương thức đào tạo này: nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ cho hệ thống LMS; phân chia trách nhiệm của các đơn vị phòng, ban trong việc hỗ trợ triển khai phương thức đào tạo trực tuyến; tổ chức các khóa tập huấn, các chương trình hội thảo, các buổi trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, khai thác phần mềm hỗ trợ; tạo cơ chế khuyến khích giảng viên viên ứng dụng đào tạo trực tuyến. Bên cạnh đó, cần tập trung vào khía cạnh hỗ trợ người học để có thể tham gia học tập trực tuyến một cách hiệu quả nhất (ý thức trách nhiệm của người học, trang thiết bị công nghệ thông tin, thư viện số, không gian học tập mở,…). Mô hình đảm bảo chất lượng bên trong Nhà trường (Nguồn: http://oqa.vn/) 23 Việc tổ chức lớp học cần phải dựa trên năng lực ngoại ngữ của sinh viên.
Sinh viên năm thứ nhất vào trường có nền tảng kiến thức và ngôn ngữ khác nhau. Vì vậy, việc kiểm tra năng lực và phân loại sinh viên đầu vào là bước quan trọng để sinh viên được sắp xếp vào lớp phù hợp. Thêm vào đó, quy mô lớp cần nhỏ hơn (25-30 sinh viên) để sinh viên có cơ hội thực hành giao tiếp nhiều hơn nữa. Ngoài ra, các câu lạc bộ sinh viên, câu lạc bộ ngoại ngữ nên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các buổi giao lưu với đại diện doanh nghiệp để sinh viên có cơ hội tìm hiểu yêu cầu của Nhà tuyển dụng, từ đó, giúp sinh viên nhận thức và định hướng rõ nét hơn lộ trình học tập của bản thân.
Có thể thấy, nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm đào tạo, việc áp dụng chuẩn đầu ra ngoại ngữ là cần thiết. Tuy nhiên, để thực hiện điều này không chỉ phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm, ý chí và quyết tâm của các cán bộ giảng viên Khoa Ngoại ngữ, các em sinh viên, mà còn cần tới sự vào cuộc quyết liệt và hệ thống của các cấp lãnh đạo Nhà trường, phòng ban và khoa viện. Chuẩn đầu ra do nội bộ trong trường đánh giá đã là một thách thức, chưa kể tới chuẩn đầu ra quốc tế xây dựng cho sinh viên các ngành trọng điểm. Nếu các giải pháp không đồng bộ và quyết liệt thì việc “đạt chuẩn” là một câu chuyện xa vời.
Khi ấy, chuẩn đầu ra không những không phục vụ được mục tiêu nâng cao chất lượng, mà còn có tác động tiêu cực tới đánh giá của sinh viên, phụ huynh và xã hội. Với mục tiêu trở thành trường đại học theo định hướng ứng dụng, tiệm cận trình độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế, Trường Đại học Hải Phòng rất cần đổi mới về tư duy phát triển, về chương trình cũng như phương pháp đào tạo nhằm tối ưu việc phát triển năng lực của người học phù hợp với xu thế của thời đại. Phương thức đào tạo này là một giải pháp đồng bộ, hiện đại, hiệu quả trong việc quản lý nguồn nhân lực, chương trình, kế hoạch đào tạo, tài nguyên học tập. Từ phương diện người sử dụng dịch vụ, sinh viên ở vị trí trung tâm và được trao quyền chủ động, làm chủ tiến trình học tập của mình, đem tới sự hài lòng (satisfaction) và trung thành (loyalty) đối với cơ sở đào tạo.
24 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ THU HÚT NGƯỜI HỌC TẠI KHOA XÂY DỰNG TS. Nguyễn Quang Tuấn - Khoa Xây dựng 1. Tình hình chung về khoa Xây dựng 1. Lực lượng viên chức, người lao động Khoa Xây dựng hiện có 19 viên chức người lao động (11 biên chế, 08 hợp đồng) sinh hoạt trong 03 tổ/bộ môn đó là: bộ môn Kiến Trúc, bộ môn Xây dựng, Tổ Thực hành kỹ thuật Xây dựng.