CHƯƠNG 1 T ÍN D Ụ N G N G Â N H À N G V À V Ấ N Đ Ể M Ở R Ộ N G T ÍN D Ụ N G N G Â N H À N G ĐỐI VỚI P H Á T T R IỂ N V Ù N G C H U Y Ê N C A N H TRONG S Ả N X U Ấ T N Ô N G N G H IỆ P 1 .1 - P H Á T T R IỂ N VÙNG CHUYÊN CANH TRONG SẢ N XUẤT NÔNG N G H IỆ P - QUY UUẬT KHÁCH QUAN TRONG PHÁT T R IỂ N k in h t ê ở NƯỚC T A .1 - V ù n g c h u y ê n c a n h và n h ữ n g đ ặ c trư n g c ủ a k in h tê, x ã h ộ i v ù n g c h u y ê n c a n h tr o n g sả n x u ấ t n ô n g n g h iệ p : Khu vực kinh tế nông thôn là một trong hai khu vực đặc trưng của nền kinh tế quốc dân: Khu vực kinh tế nông thôn và khu vực kinh tế thành thị. Khu vực kinh tế nông thôn được phân biệt với kinh tế thành thị bởi: Đặc trưng của những ngành nghề, khu vực địa lý gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội. Khu vực kinh tế nông thôn tồn tại và phát triển gắn liền với các bộ phận cấu thành và tổng thể các quan hệ kinh tế nhất định. Do vậy, kinh tế nông thôn luôn luôn gắn liền và được phản ánh thông qua cơ cấu kinh tế nông thôn.
Cơ cấu kinh tế nông thôn thể hiện quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau giữa các bộ phận cấu thành những tỷ lệ về mặt lượng, cũng như về mặt chất. Cơ cấu kinh tế nông thôn thể hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành , phân ngành trong nông thôn. Trong nền sản xuất hàng hoá các ngành, phân ngành được phát triển mạnh mẽ, cùng với sự khác nhau bởi khu vực địa lý, thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong từng thời kỳ tạo nên những vùng chuyên canh sản xuất những sản phẩm nhất định trong nông nghiệp. Như vậy, kinh tế vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp là một khái niệm dùng đ ể biểu đạt một tổng thể các mối quan hệ trong hoạt động 2 kinh tế xã hội diễn ra trên địa bàn cụ thể, nó bao trùm cả nông nghiệp ( theo nghĩa rộng: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp ) và cả Công nghiệp, Dịch vụ trên địa bàn đó.
Kinh tế xã hội vùng chuyên canh có những đặc trưng cơ bản sau: M ột là: Vùng chuyên canh là một biểu hiện của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn mang tính khách quan và được hình thành do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, sẽ hình thành và phát triển các vùng sản xuất chuyên canh tương ứng, phù hợp với cơ cấu kinh tế cụ thể. Điều đó khẳng định , việc hình thành các vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp là một yêu cầu khách quan trong nền sản xuất hàng hoá không thể áp đặt một cách chủ quan, duy ý chí. Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, tự nó đã có thế xác lập những tỷ lệ nhất định các mối quan hệ kinh tê.
Vì thế, xu hướng chuyển dịch sản xuất trong nông nghiệp , hoàn toàn phụ thuộc và chịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế, xã hội, điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên nhất định, chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Hai là: Vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp bao giờ cũng mang tính lịch sử và xã hội nhất định. Vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp được hình thành trong những thòi gian cụ thể: Tại thời điểm đó, do những điều kiện cụ thể về kinh tế - xã hội và tự nhiên, phù hợp với chuyên ngành sản xuất đó. Song, một khi có những biến đổi trong các điều kiện nói trên, thì lập tức hình thành các vùng sản xuất mới tương ứng.
Do vậy, vùng chuyên canh phản ánh tính quy luật chung của quá trình phát triển kinh tê xã hội nông thôn và nó được biểu hiện cụ thể trong không gian và thời gian nhất định. Mặt khác, do xã hội loài người không ngừng phát triển, phân công lao động ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của con người cũng không ngừng tăng lên theo hướng đa dạng hơn, chất lượng hơn. Chính sự phát triển tất yếu đó là 3 nguyên nhân khách quan, thúc đẩy việc hình thành và phát triển các vùng chuyên canh phù hợp, để thoả mãn nhu cầu có tính xã hội. Tính xã hội của sản xuất sản phẩm ở vùng chuyên canh là ở chỗ đảm bảo và thoả mãn tập quán, sở thích tiêu dùng của con người trong xã hội.
Ba là: Các vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp không ngừng vận động biến đổi, phát triển theo hướng ngày càng hợp lý, hoàn thiện và có hiệu quả. Quá trình phát triển và biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tạo ra các vùng chuyên canh luôn gắn bó chặt chẽ với sự phát triển các yếu tố của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Lực lượng sản xuất càng phát triển, con người càng văn minh, khoa học kỹ thuật càng hiện đại, phân công lao động ngày càng tỉ mỉ và phức tạp, tất yếu dẫn đến các vùng chuyên canh sản xuât trong nông nghiệp cũng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện. Chính vì cơ cấu kinh tế phản ánh trực tiếp mối quan hệ của các yếu tố luôn vận động của lực lượng sản xuất, các qui luật tự nhiên và sự vận động của xã hội, của các qui luật xã hội; cho nên sự vận động của cơ cấu kinh tế nông thôn cũng gắn liền với sự vận động và biến đổi không ngừng của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế quốc dân nói chung, cũng như nền kinh tế nông thôn nói riêng.
Các vùng chuyên canh trong nông nghiệp cũng luôn vận động, phát triển và đến mức độ nào đó trở nên lỗi thời, lạc hậu và chính nó lại được thay thế bằng một vùng kinh tế mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn. Sự vận động, biến đổi đó là yếu tô phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại. B ốn là: Chuyển dịch cơ cấu kinh tê nông nghiệp tạo nên các vùng chuyên canh là quá trình và không thể có một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hoàn thiện và bất biến. Nền kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng luôn vận động, phát triển và chuyển hoá từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ 4 cấu kinh tế mới; quá trình đó đòi hỏi phải có thời gian và phải qua những thang bậc nhất định của sự phát triển.
Tất nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn hình thành các vùng chuyên canh nhanh hay chậm, còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó, sự tác động của con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thông qua các giải pháp, cơ chế, chính sách. Trên cơ sở nhận thức, nắm bắt các qui luật vận động khách quan, con người có thể thúc đẩy quá trình chuyển dịch này một cách nhanh chóng, theo các mục tiêu đã được hoạch định. Vấn đề quan trọng là phải bắt đầu từ đâu và tác động như thế nào, để có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền; từ đó tạo ra bước phát triển để xác lập cơ cấu kinh tế mới, các vùng chuyên canh mới phù hợp, hoạt động có hiệu quả cao hơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, hình thành các vùng chuyên canh là nhằm phát triển kinh tế một cách toàn diện, trên cơ sở khai thác tối ưu các nguồn lực, thế mạnh sẵn có trong nông thôn, phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước.
Đa số các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn bắt đầu phát triển , cũng đều coi kinh tế nông thôn là mục tiêu, là cơ sở để phát triển kinh tế của nước mình. Đối với nước ta, chủ trương phát triển kinh tế nông thôn toàn diện chỉ thành công khi chúng ta thực hiện được việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và tạo ra những vùng chuyên canh hoạt động có hiệu quả. Sớm chuyển sang kinh tế nông thôn từ cơ cấu kinh tế thuần nông và độc canh cây lúa là chính, sang một cơ cấu kinh tế mới cơ cấu nông- công nghiệp, dịch vụ hợp lý , để khai thác tốt nhất các điều kiện kinh tê xã hội và tự nhiên trên địa bàn nông thôn.2 - N hững nhân tô ảnh hưởng đến phát triển vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp: Diện tích, năng suất, sản lượng, quy mô, hiệu quả sản xuất các sản phẩm và kinh tế xã hội vùng chuyên canh trong sản xuất nông nghiệp, phát 5 triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có các nhóm nhân tố chủ yếu dưới đây: 1 .1 - N h ó m n h â n t ố vé đ ịa lý - tự n h iên : Canh tác nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như đất đai, thòi tiết, khí hậu.V ì hầu hết các hoạt động sản xuất nông nghiệp được diễn ra ở ngoài trời trong không gian rộng lốm, thời gian dài , đối tượng canh tác của con người ở đây đa số là những sinh vật sống nên mọi thay đổi của thời tiết, khí hậu đều có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, cây trồng. Có thể nói các nhân tố về địa lý - tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của sản xuất nông nghiệp nói chung và các vùng chuyên canh nói riêng.2 - N h ó m n h â n t ố vê t ổ c h ứ c sả n x u ấ t: ơ nước ta nền kinh tê nông nghiệp rất lạc hậu lại trải qua một thời kỳ dài trong cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp thông qua các mô hình HTX và Nông trường quốc doanh xoá bỏ thành phần kinh tế cá thể, tư nhân nên đã kìm hãm sản xuất nông nghiệp trong nhiều thập kỷ, do cơ chê không phù hợp, các mô hình quản lý này chậm phát triển, kém hiệu quả.