Tổng quan nghiên cứu
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vai trò là xương sống của nền kinh tế Việt Nam khi chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo ra hơn 50,13% việc làm cho lực lượng lao động xã hội. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng của khối này còn gặp rất nhiều rào cản do vốn tự có bình quân của mỗi doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 1,33 tỷ đồng, dẫn đến năng lực tài chính và tài sản bảo đảm còn mỏng. Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương (Vietcombank Bình Dương), dư nợ cấp tín dụng cho khối DNNVV trong giai đoạn 2004 - 2008 luôn duy trì ở mức khiêm tốn, chỉ chiếm từ 18,76% đến 21,34% tổng dư nợ toàn chi nhánh.
Thực trạng cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào các tổng công ty và doanh nghiệp lớn tiềm ẩn rủi ro rất cao khi chu kỳ kinh tế bước vào giai đoạn suy thoái, thể hiện qua việc tỷ lệ nợ xấu chung của chi nhánh tăng vọt từ 0% trong giai đoạn 2004 - 2006 lên mức 5,03% vào quý I/2009. Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng cấp tín dụng cho khối DNNVV tại Vietcombank Bình Dương trong mốc thời gian từ năm 2004 đến hết quý I/2009. Mục tiêu trọng tâm là nhận diện các điểm nghẽn từ phía ngân hàng, doanh nghiệp và môi trường pháp lý, từ đó thiết lập hệ thống giải pháp nâng tỷ trọng cho vay DNNVV lên mức 30% - 35% tổng danh mục tín dụng, đồng thời giữ vững tỷ lệ nợ xấu của mảng này dưới ngưỡng 2,5%. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc hỗ trợ chi nhánh đa dạng hóa danh mục tài sản sinh lời, phân tán rủi ro và đóng góp tích cực vào sự phát triển công nghiệp hóa của tỉnh Bình Dương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý luận kinh tế tiền tệ và ngân hàng hiện đại:
- Lý thuyết tín dụng ngân hàng: Tín dụng được tiếp cận như một giao dịch chuyển giao tài sản tạm thời dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn gốc lẫn lãi vay và được xây dựng trên nền tảng lòng tin tín nhiệm. Tín dụng thực hiện ba chức năng cốt lõi: tập trung và phân phối lại nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội; tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông thông qua việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua giám sát báo cáo tài chính của bên vay.
- Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information Theory): Mô hình của Stiglitz và Weiss giải thích hiện tượng phân bổ hạn ngạch tín dụng (Credit Rationing). Khi ngân hàng không có đủ thông tin minh bạch về sức khỏe tài chính của bên vay, việc tăng lãi suất có thể dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection) và rủi ro đạo đức (Moral Hazard), buộc tổ chức tín dụng phải thắt chặt điều kiện tài sản bảo đảm.
- Khung tiêu chí phân loại DNNVV: Luận văn áp dụng định nghĩa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP và Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, xác định quy mô doanh nghiệp theo hai chỉ tiêu chính là tổng nguồn vốn (dưới 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng) và số lượng lao động bình quân năm (dưới 10 người đến 300 người) tương ứng với từng khu vực nông nghiệp, công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa phân tích thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian (time-series) và khảo sát thực chứng:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập toàn bộ số liệu báo cáo tài chính nội bộ, bảng cân đối kế toán, bảng theo dõi dư nợ và doanh số cho vay theo quý và năm của Vietcombank Bình Dương trong suốt giai đoạn từ năm 2004 đến quý I/2009, kết hợp số liệu vĩ mô từ Ngân hàng Nhà nước và Cục Thống kê tỉnh Bình Dương.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu khảo sát sơ cấp: Tác giả đã tiến hành phát ra 200 phiếu khảo sát đánh giá thực trạng tiếp cận vốn tín dụng gửi tới các chủ doanh nghiệp và giám đốc tài chính trên địa bàn tỉnh Bình Dương, qua đó thu về 40 phiếu phản hồi hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 20%). Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo các ngành nghề sản xuất trọng điểm (chế biến gỗ, gốm sứ, da giày, gia công cơ khí) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp địa phương.
- Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp dữ liệu thống kê lịch sử 5 năm với khảo sát thực địa giúp bóc tách rõ nét sự khác biệt giữa quy định tín dụng trên văn bản và thực tiễn vận hành, từ đó tìm ra nguyên nhân gốc rễ khiến dòng vốn tín dụng chưa thể khơi thông hiệu quả vào khu vực DNNVV.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng tín dụng tại Vietcombank Bình Dương từ năm 2004 đến hết quý I/2009 cho thấy nhiều chuyển biến rõ rệt:
Thứ nhất, quy mô dư nợ cho vay DNNVV tăng trưởng ổn định về giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ toàn chi nhánh gần như đi ngang. Dư nợ khối DNNVV đã tăng từ mức 320.184 triệu đồng vào năm 2004 lên 793.000 triệu đồng vào ngày 31/03/2009, tương ứng mức tăng trưởng tuyệt đối 147,6%. Số lượng khách hàng DNNVV có quan hệ tín dụng tăng từ 12 doanh nghiệp năm 2004 lên 65 doanh nghiệp vào quý I/2009. Mặc dù vậy, tỷ trọng dư nợ DNNVV trên tổng dư nợ chỉ biến động nhẹ từ mức 20,25% năm 2004 lên mức 21,34% vào quý I/2009, cho thấy chi nhánh vẫn dành phần lớn nguồn lực phục vụ các khách hàng doanh nghiệp lớn.
Thứ hai, cơ cấu dư nợ DNNVV phân theo thành phần kinh tế có sự tập trung cao độ vào khối công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Nhóm hình thức này luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 59,63% năm 2004 và đạt 48,23% vào quý I/2009. Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vị trí thứ hai với 32,21% tổng dư nợ DNNVV (tương đương 255 tỷ đồng vào cuối quý I/2009). Ngược lại, nhóm doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn khoảng 10,20% và doanh nghiệp nhà nước chiếm 6,45%.
Thứ ba, sự phân bổ tín dụng theo ngành nghề thể hiện rõ thế mạnh công nghiệp của tỉnh Bình Dương. Dư nợ DNNVV tập trung nhiều nhất ở ngành gốm sứ, gạch ceramic và hàng thủ công mỹ nghệ với 217 tỷ đồng (chiếm 27,35% tổng dư nợ DNNVV vào quý I/2009), tiếp sau là kinh doanh xăng dầu chiếm 19,09%, ngành da giày chiếm 16,89% và chế biến lương thực, thực phẩm chiếm 12,02%. Các lĩnh vực thâm dụng vốn lớn như sản xuất sắt thép hay xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp ghi nhận tỷ lệ dư nợ DNNVV bằng 0% do chỉ có các tổng công ty lớn tham gia.
Thứ tư, về loại tiền vay và chất lượng nợ, dư nợ bằng đồng Việt Nam (VND) chiếm tỷ trọng áp đảo 77,96% (đạt 618 tỷ đồng), trong khi dư nợ bằng đô la Mỹ (USD) chiếm 22,04% (khoảng 11 triệu USD quy đổi). Tỷ lệ nợ xấu của phân khúc DNNVV được kiểm soát tương đối an toàn ở mức 2,10% vào quý I/2009, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ nợ xấu chung của toàn chi nhánh là 5,03%. Dữ liệu được minh họa rất chi tiết qua bảng tổng hợp chuỗi thời gian phân loại dư nợ và biểu đồ tỷ trọng tài sản bảo đảm.
Thảo luận kết quả
Kết quả phân tích cho thấy sự chênh lệch lớn giữa tiềm năng thị trường và quy mô giải ngân thực tế bắt nguồn từ những mâu thuẫn nội tại:
- Về phía doanh nghiệp: Có tới 97% DNNVV không sử dụng các dịch vụ tư vấn chiến lược quản lý hay tư vấn marketing bài bản; chỉ khoảng 3% từng sử dụng dịch vụ tư vấn thuế và kế toán cơ bản. Đa phần các đơn vị chỉ lập một hệ thống sổ sách kế toán mang tính đối phó cơ quan thuế, thiếu báo cáo kiểm toán độc lập nên số liệu tài chính có độ tin cậy thấp. Hơn nữa, tài sản bảo đảm của DNNVV chủ yếu là máy móc thiết bị cũ kỹ hoặc nhà xưởng trên đất thuê trả tiền hàng năm, không đủ điều kiện pháp lý để thế chấp theo quy định.
- Về phía ngân hàng: Quy chế cho vay của Vietcombank ban hành theo Quyết định số 228/QĐ-NHNN.HĐQT vẫn duy trì các điều kiện khắt khe về tài sản bảo đảm tương tự như các nghị định cũ, chưa mạnh dạn áp dụng hình thức cho vay tín chấp hoặc cho vay dựa trên dòng tiền lưu chuyển. Khảo sát thực tế từ 40 doanh nghiệp phản hồi khẳng định rằng việc ngân hàng định giá tài sản thấp hơn nhiều so với giá thị trường và quy trình thủ tục xét duyệt còn rườm rà là hai rào cản lớn nhất ngăn cản họ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi 6%/năm trong gói kích cầu kinh tế năm 2009.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng an toàn cho khối DNNVV, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:
- Đổi mới quy trình thẩm định và đa dạng hóa sản phẩm tín dụng: Ban Giám đốc và Phòng Tín dụng Vietcombank Bình Dương cần thiết kế các gói sản phẩm đặc thù như cho vay thấu chi tài khoản, bao thanh toán (factoring), chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu và cho vay theo chuỗi cung ứng sản xuất gốm sứ, đồ gỗ xuất khẩu. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm dựa trên uy tín và dòng tiền thu về lên mức 15% - 20% trong tổng dư nợ DNNVV theo lộ trình 2010 - 2012.
- Tinh giản quy trình phê duyệt và hiện đại hóa công tác định giá tài sản: Phòng Quản lý rủi ro và các phòng giao dịch cần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ vay vốn từ 7 ngày làm việc xuống còn 3 - 5 ngày làm việc đối với các phương án kinh doanh khả thi. Đồng thời, chấp thuận định giá linh hoạt các tài sản bảo đảm bao gồm quyền đòi nợ hình thành trong tương lai, hàng hóa luân chuyển trong kho và phương tiện vận tải theo giá trị thị trường thực tế.
- Chuyên môn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Phòng Tổ chức cán bộ cần thực hiện đào tạo 100% cán bộ tín dụng về kỹ năng phân tích báo cáo quản trị và thẩm định phương án sản xuất kinh doanh đặc thù của DNNVV, chuyển dịch phong cách làm việc từ kiểm soát hồ sơ sang tư vấn tài chính đồng hành cùng doanh nghiệp trong giai đoạn 2010 - 2011.
- Hoàn thiện khung pháp lý và chính sách bảo lãnh cấp vĩ mô: Đề nghị Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp kiến nghị sửa đổi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm và tháo gỡ vướng mắc tại khoản 2 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003, cho phép doanh nghiệp được quyền thế chấp quyền sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm tại các tổ chức tín dụng. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cần nhanh chóng bố trí ngân sách địa phương để nâng vốn điều lệ của Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV lên mức tối thiểu 100 tỷ đồng, tạo đòn bẩy bảo lãnh tối đa 80% phần chênh lệch tài sản cho các dự án khởi nghiệp khả thi.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và phương pháp luận của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý và chuyên viên tín dụng tại các ngân hàng thương mại: Giúp nắm bắt phương pháp phân tích danh mục tín dụng theo chuỗi thời gian, xây dựng tiêu chí chấm điểm khách hàng DNNVV và thiết kế các sản phẩm tài trợ chuỗi phù hợp với đặc thù khu công nghiệp.
- Ban giám đốc và kế toán trưởng các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Cung cấp góc nhìn từ phía tổ chức tài chính để hiểu rõ tiêu chuẩn xét duyệt khoản vay, từ đó nâng cao tính minh bạch của hệ thống kế toán, lập phương án kinh doanh khả thi và chuẩn bị hồ sơ vay vốn hiệu quả.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về cấu trúc một luận văn thạc sĩ kinh tế chuẩn mực, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận, phương pháp định lượng thống kê mô tả và kỹ thuật khảo sát thực địa.
- Cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội ngành nghề: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những vướng mắc của cơ chế thế chấp đất đai, giúp tham mưu chính sách hoàn thiện mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng và triển khai các gói hỗ trợ lãi suất đúng đối tượng.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao tỷ trọng dư nợ DNNVV tại Vietcombank Bình Dương chỉ dao động quanh mức 20% tổng dư nợ?
Do chi nhánh có thế mạnh truyền thống và mạng lưới quan hệ sâu rộng với các doanh nghiệp lớn, tổng công ty nhà nước và khối doanh nghiệp FDI quy mô lớn. Việc cho vay khối doanh nghiệp lớn giúp chi nhánh nhanh chóng hoàn thành chỉ tiêu doanh số và giảm thiểu chi phí quản lý món vay so với việc quản lý nhiều khoản vay nhỏ lẻ.
-
Rào cản lớn nhất khiến các DNNVV tại Bình Dương không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng là gì?
Rào cản lớn nhất nằm ở tính minh bạch của báo cáo tài chính và sự thiếu hụt tài sản bảo đảm đạt chuẩn pháp lý. Hơn 90% DNNVV lập sổ sách kế toán chưa hoàn chỉnh, thiếu báo cáo kiểm toán độc lập và tài sản thế chấp chủ yếu là máy móc cũ hoặc đất thuê trả tiền hàng năm không được thế chấp.
-
Tỷ lệ nợ xấu của phân khúc DNNVV so với mặt bằng chung toàn chi nhánh như thế nào?
Trong giai đoạn 2004 - 2006, tỷ lệ nợ xấu mảng DNNVV được kiểm soát ở mức 0%. Đến quý I/2009, nợ xấu DNNVV chỉ dừng ở mức 2,10% (tương đương khoảng 16,6 tỷ đồng), thấp hơn rất nhiều so với mức nợ xấu 5,03% của toàn chi nhánh vốn bị ảnh hưởng nặng bởi sự suy giảm của một số khách hàng lớn.
-
Mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng có thực sự giúp DNNVV giải quyết bài toán thiếu tài sản bảo đảm?
Trên lý thuyết, Quỹ bảo lãnh có thể bảo lãnh tối đa 80% phần thiếu hụt tài sản cho các dự án khả thi. Tuy nhiên trên thực tế, tính đến năm 2009, toàn quốc mới chỉ có khoảng 10 tỉnh thành lập quỹ và chỉ có 3 quỹ hoạt động thực chất do vốn điều lệ hạn hẹp và điều kiện bảo lãnh vẫn yêu cầu tối thiểu 30% tài sản thế chấp.
-
Chính sách hỗ trợ bù lãi suất 4% năm 2009 đã làm thay đổi cơ cấu tiền tệ của danh mục cho vay ra sao?
Do chương trình kích cầu bù lãi suất của Chính phủ chỉ áp dụng đối với các khoản vay bằng đồng Việt Nam (VND), các doanh nghiệp đã chủ động chuyển đổi sang vay nội tệ. Kết quả là tỷ trọng dư nợ VND tại chi nhánh đã tăng vọt từ mức 50,19% năm 2004 lên 77,96% vào quý I/2009, trong khi vay USD giảm mạnh xuống còn 22,04%.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng, chức năng phân phối vốn và vai trò sống còn của khối DNNVV trong việc tạo ra 40% GDP và hơn 50% việc làm cả nước.
- Bóc tách bức tranh thực trạng tín dụng tại Vietcombank Bình Dương giai đoạn 2004 - quý I/2009, ghi nhận sự gia tăng quy mô dư nợ DNNVV từ 320,18 tỷ đồng lên 793 tỷ đồng với 65 khách hàng thường xuyên.
- Nhận diện các nguyên nhân then chốt kìm hãm tỷ trọng cho vay DNNVV ở mức 21,34%, bao gồm báo cáo tài chính thiếu chuẩn mực, vướng mắc pháp lý về thế chấp đất thuê và cơ chế định giá tài sản thận trọng của ngân hàng.
- Hoạch định 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, tập trung vào đa dạng hóa gói tín dụng không tài sản bảo đảm, tinh giản thủ tục phê duyệt xuống 3 - 5 ngày và nâng cao năng lực Quỹ bảo lãnh tín dụng.
- Đóng góp luận cứ khoa học sắc bén giúp các tổ chức tín dụng tái cấu trúc danh mục cho vay bền vững trong giai đoạn 2010 - 2015, mở rộng dòng vốn thúc đẩy cộng đồng doanh nghiệp địa phương phát triển mạnh mẽ.