Chương 1 MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân 1.1 Khái niệm Trong nền kinh tế Việt Nam, DNVVN là bộ phận doanh nghiệp rất quan trọng, đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế… Các DNVVN là một bộ phận doanh nghiệp phong phú với đủ mọi loại hình doanh nghiệp từ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác xã đến các Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần… kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Chiếm tỷ trọng tương đối cao, trên 90% tổng doanh nghiệp hiện có trên cả nước, các DNVVN đang hoạt động trong môi trường kinh tế chưa hoàn toàn thuận lợi cả tầm vĩ mô và vi mô. Mặc dù chiếm tỷ trọng lớn như thế nhưng hầu hết các DNVVN đều có quy mô nhỏ cả về vốn và lao động. Tuỳ theo đặc điểm và quy định của mỗi nước mà DNVVN được định nghĩa theo các cách khác nhau.
Tuy nhiên DNVVN được định nghĩa một cách chung nhất: DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân; kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận; có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ quy định của từng quốc gia (Nguồn: Giải pháp phát triển DNVVN ở Việt Nam của Nguyễn Đình Hương - Nhà xuất bản thống kê 2002). Ở Việt Nam, DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô vốn và lao động Nguyễn Thị Hải TCDN 46Q Luan van Chuyên đề tốt nghiệp 4 tuỳ theo quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. Theo quy định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001 thì DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, có đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.2 Đặc điểm - DNVVN có cơ cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt. Các DNVVN thường có cơ cấu tổ chức đơn giản, số lượng lao động ít vì thế các doanh nghiệp này rất năng động linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc thâm nhập được vào thị trường sẽ đem lại cho doanh nghiệp nhiều thành công. Lợi nhuận của doanh nghiệp chỉ thu được tối đa khi sản phẩm hàng hoá đang trong giai đoạn tăng trưởng, và khi sản phẩm hàng hoá đến giai đoạn suy thoái, bị thị trường từ chối thì các DNVVN với quy mô vừa hoặc nhỏ sẽ dễ dàng chuyển hướng sản xuất, lựa chọn mặt hàng kinh doanh có lợi nhất, phù hợp nhất với khả năng của mình. Hơn nữa, những người điều hành quản lý doanh nghiệp phần lớn là chủ sở hữu của doanh nghiệp hoặc là người góp vốn lớn nhất nên họ được toàn quyền ra tất cả các quyết định có liên quan đến doanh nghiệp. Cũng do hoạt động hẹp, chủ sở hữu vừa là người đầu tư vừa là người quản lí nên các doanh nghiệp này được tự do hành động.
Sự gắn bó sát sao của chủ doanh nghiệp với quyền lợi của người lãnh đạo khiến họ phải tập trung hết trí lực cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì họ có khả năng tự quyết nên họ có thể chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện cho khả năng thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự thay đổi của khoa học kĩ thuật. Còn đối với các doanh nghiệp lớn, do quy mô lớn cả về lao động và vốn nên thiếu sự linh động, khó phản ứng kịp thời với những biến động của thị trường, mà hầu hết các doanh nghiệp này thường có Nguyễn Thị Hải TCDN 46Q Luan van Chuyên đề tốt nghiệp 5 chủ sở hữu là Nhà nước nên bị động trong sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh doanh phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, vì thế có lúc mục tiêu lợi nhuận phải nhường chỗ cho mục tiêu phát triển. - Mặc dù là nơi tạo việc làm chủ yếu trong mọi lĩnh vực.
Mỗi năm thu hút hàng triệu lao động nhưng hầu hết chất lượng lao động trong các DNVVN rất thấp vì các doanh nghiệp này thường tận dụng nguồn lao động rẽ tại địa phương, họ ít được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ do đó hiệu quả lao động chưa cao. Hơn nữa, các doanh nghiệp này có vốn ít nên hiếm có các chương trình đào tạo giúp nâng cao tay nghề cho lao động của doanh nghiệp. - Nói đến DNVVN ở Việt Nam chủ yếu là nói đến các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Do tính lịch sử của quá trình hình thành và phát triển các thành phần kinh tế nên hầu hết các DNVVN ở nước ta đều thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Vì vậy, đặc điểm và tính chất của các doanh nghiệp thuộc khu vực này mang tính đại diện cho DNVVN. - Các DNVVN phong phú với đủ mọi loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nên các DNVVN cung cấp một khối lượng sản phẩm đa dạng cho xã hội. Đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá như hiện nay thì sự phát triển của các DNVVN là cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu. Nhờ quy mô nhỏ, chi phí sản xuất kinh doanh thấp vì tận dụng được nguồn lao động, nguyên vật liệu rẻ tại địa phương, nên các DNVVN có khả năng chuyên môn hoá sâu, có thể sản xuất một mặt hàng thay thế nhập khẩu có chất lượng tốt, giá thành phù hợp với sức mua của nhân dân từ đó góp phần ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Các DNVVN ở Việt Nam thường có công nghệ lạc hậu, thủ công. Hầu hết các DNVVN ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu từ 15- 20 năm nên sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghệ thấp, hàm lượng Nguyễn Thị Hải TCDN 46Q Luan van Chuyên đề tốt nghiệp 6 chất xám ít, giá trị thương mại và sức cạnh tranh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tình trạng máy móc thiết bị, công nghệ lạc hậu đã và đang là nguyên nhân chính của tình trạng lãng phí trong sử dụng nguyên nhiên vật liệu và ô nhiễm môi trường… Do chủ yếu tận dụng nguồn lao động tại địa phương với trình độ kỹ thuật tay nghề thấp nên khả năng tiếp cận với những công nghệ máy móc hiện đại là rất khó. Hơn nữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, khả năng huy động vốn lại ít nên thường gặp khó khăn trong việc đầu tư đổi mới công nghệ.
- Trình độ quản lý của chủ DNVVN bị hạn chế, thiếu thông tin trong khi đó lại khó có khả năng thu hút các nhà quản lý và lao động giỏi. Do khả năng tài chính có hạn, DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến cũng như ít có khả năng mua sắm những thiết bị hiện đại. Mặt khác, phần lớn các DNVVN được thành lập do sự góp vốn của những người có vốn, khả năng quản lý của họ có hạn nên thường gặp lúng túng khi có biến động lớn trên thị trường. Các nhà quản lý doanh nghiệp chưa được đào tạo, thiếu sự hiểu biết đầy đủ về quản lý doanh nghiệp trong khi điều kiện hội nhập và cạnh tranh.
Hơn nữa do quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, các DNVVN khó có thể trả lương cao cho người lao động nên khó có khả năng thu hút những người lao động có trình độ cao trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành doanh nghiệp. - Các DNVVN có năng lực tài chính thấp. Vốn luôn là khó khăn lớn nhất đối với sự tăng trưởng của DNVVN. Khi mới thành lập, phần lớn các DNVVN thường gặp phải vấn đề về vốn.
Các nhà đầu tư, các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các doanh nghiệp này bởi các DNVVN chưa có uy tín trên thị trường cạnh tranh, chưa tạo lập được khả năng trả nợ. Vốn chủ sở hữư thấp, năng lực tài chính chưa cao, nếu chưa tạo được năng lực bằng uy tín kinh doanh và hiệu quả sử dụng Nguyễn Thị Hải TCDN 46Q Luan van Chuyên đề tốt nghiệp 7 vốn thì doanh nghiệp rất khó tìm được người bảo lãnh cho mình trong quan hệ tín dụng. Vì thế DNVVN rất khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Muốn vay vốn được từ nguồn tín dụng của các ngân hàng thương mại thì các DNVVN phải tạo lập được dự án đầu tư có tính khả thi nhưng do trình độ, khả năng quản lý kinh doanh của chủ doanh nghiệp thấp, khả năng dự báo trước những sự biến động của ngành, của nền kinh tế kém nên việc xây dựng các kế hoạch tài chính, phương án sản xuất kinh doanh của không ít DNVVN còn yếu trong khi dịch vụ tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp lại chưa phát triển.
Mặt khác, không ít các DNVVN lập báo cáo tài chính chưa rõ ràng, không minh bạch do yếu kém về quản trị doanh nghiệp nên các báo cáo tài chính không đáp ứng được yêu cầu.