chương I - B - Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật. TIEU LUAN MOI download15 : skknchat@gmail. Biến đổi khí hậu, tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu Khái niệm Biến đổi khí hậu Theo IPCC (2007), Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu.
BĐKH hiện đại được nhận biết thông qua sự gia tăng của nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu. Biểu hiện của BĐKH còn được thể hiện qua sự dâng mực nước biển, hệ quả của sự tăng nhiệt độ toàn cầu. [34, trang 17] TkỴ A 1 ^ A A 1 • A ^ * 1 1 ^ 1 A Nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu BĐKH hiện nay có nguyên nhân từ hoạt động của con người. Loài người mới xuất hiện cách đây khoảng gần chục nghìn năm, quá ngắn so với các chu kỳ băng hà.
Nhưng hoạt động của con người đã tác động đáng kể đến hệ thống khí hậu mà có lẽ kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750). Vì nhu cầu mưu sinh, con người đã “can thiệp” vào các thành phần của hệ thống khí hậu, làm thay đổi thuộc tính tự nhiên của nó. Từ chỗ đốt rừng làm nương rẫy, chặt cây lấy củi, khai thác tài nguyên, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, con người ngày càng sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển càng nhiều các chất khí gây hiệu ứng nhà kính. Nền công nghiệp càng phát triển, lượng chất phát thải đó ngày càng tăng, làm gia tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của Trái đất.
Các khí nhà kính trong khí quyển Trái đất có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc hoàn toàn do con người sinh ra. Điôxít Cacbon (CO 2) Chiếm khoảng một nửa khối lượng KNK. TIEU LUAN MOI download16 : skknchat@gmail.com Đóng góp tới 60% cho quá trình làm tăng nhiệt độ khí quyển. Từ 1975 đến nay, nồng độ CO 2 trong khí quyển tăng lên 28%.
Sản sinh từ đốt nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, k h í.) và khai phá rừng. M ê tan (CH 4) x ế p thứ hai sau CO 2 về khối lượng. x ế p thứ hai sau CO 2 trong quá trình làm tăng nhiệt độ khí quyển. Khoảng cuối thập kỷ 1960 mới có những đo đạc chính thức.
Sản sinh ra từ ruộng lúa nước, phân súc vật, mỏ khai thác nhiên liệu, bãi rác chôn lấp Ôzôn đối lưu (O3) Ôzôn đối lưu làm tăng nồng độ KNK trong khi Ôzôn bình lưu dưới gọi là lá chắn bảo vệ sinh vật trên trái đất khỏi các tia bức xạ tử ngoại từ mặt trời. x ế p thứ ba sau khí CO 2 và CH 4 về khối lượng. x ế p thứ ba sau khí CO 2 và CH 4 trong quá trình làm tăng nhiệt độ khí quyển. Từ 1975 đến nay tăng khoảng 15%.
Tạo ra trong tự nhiên, sản sinh từ động cơ ô tô, xe máy, nhà máy điện. Ôxít nitơ (N2O) Vốn có trong khí quyển. Mới được đo đạc trong khoảng vài mươi năm gần đây. Từ đầu thế kỷ đến nay tăng khoảng 8%.
Tạo ra trong tự nhiên. Sản sinh từ đốt nhiên liệu hóa thạch, sản xuất và sử dụng phân bón, sản xuất hóa chất, phá rừng. Chlorofluorocarbons (CFC) Hoàn toàn do hoạt động nhân tạo sinh ra. Bắt đầu xuất hiện từ những năm 1930.
TIEU LUAN MOI download17 : skknchat@gmail.com Từ năm 1970, được phát hiện là tác nhân phá hủy tầng Ôzôn. Sản sinh ra từ quá trình sản xuất các thiết bị làm lạnh (điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, bình xịt mỹ phẩm ),. Từ năm 2010 trở đi ngừng sản xuất. Trong đó, tăng cường khả năng thích ứng là một phương thức giảm mức độ tổn thương và định hướng phát triển bền vững.
[9, trang 151] Các giải pháp thích ứng với BĐKH được đề cập và xây dựng rất đa dạng. Theo Báo cáo đánh giá thứ 2 của IPCC (1995), có 228 giải pháp thích ứng BĐKH khác nhau đã được mô tả. Dựa theo đặc điểm của thích ứng, các đối tượng bị tác động gắn với đặc điểm các lợi ích dễ thực hiện, áp dụng và đạt hiệu quả cao, các giải pháp thích ứng được xây dựng theo các nhóm khác nhau. Chia sẻ những tổn thất: chia sẻ những tổn thất giữa cộng đồng lớn như là các hộ gia đình, làng mạc hay là các cộng đồng nhỏ tương tự.
Sự chia sẻ tổn thất hiện nay có thể thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết các hoạt động kinh tế - xã hội, khu vực, cộng đồng chịu ảnh hưởng thông qua viện trợ của các quỹ cộng đồng như bảo hiểm xã hội. Giảm nguy hiểm: phương pháp này tập trung làm giảm nhẹ tác động của các tai biến liên quan đến BĐKH. Ngăn chặn các tác động: sử dụng các phương pháp thích ứng từng bước để ngăn chặn các tác động của BĐKH. Thay đổi cách sử dụng: áp dụng cho những vùng/khu vực chịu tác động lớn của BĐKH như thay thế cây trồng thích hợp với sự thay đổi nhiệt độ; chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng trọt có thể trở thành đồng cỏ/trồng r ừ n g ,.
Thay đổi địa điểm: ví dụ như chuyển các cây trồng chủ chốt và vùng nông trại ra khỏi khu vực khô hạn đến khu vực ôn hoà hơn và có thể sẽ thích hợp hơn cho một vài vụ trong tương lai (Rosenzweig và Parry, 1994). TIEU LUAN MOI download18 : skknchat@gmail.com Nghiên cứu: áp dụng những nghiên cứu, khoa học kỹ thuật với các công nghệ và phương pháp mới. Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: sự phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi của con người (một trong những tác nhân gây BĐKH). [9, trang152 - 153] Giảm nhẹ Biến đổi khí hậu Là những thay đổi về kỹ thuật và các giải pháp thay thế nhằm giảm nguồn phát thải khí nhà kính.
Mặc dù một số chính sách về xã hội, kinh tế và kỹ thuật có thể giảm sự phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ BĐKH mang nghĩa thực thi các chính sách nhằm giảm nhẹ khí nhà kính và tăng bể chứa các khí nhà kính (IPCC, 2007). [9, trang 155] Quản lý chất thải: tăng cường hiệu quả của công tác quản lý chất thải cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Bảo vệ và phát triển rừng: làm tăng khả năng hấp thụ các khí nhà kính nhằm giảm nhẹ BĐKH. Giáo dục và truyền thông: nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm giảm nhẹ BĐKH, tăng cường hợp tác quốc tế cùng chung tay giải quyết các vấn đề BĐKH toàn cầu.
Nguyên tắc lồng ghép giáo dục biến đổi khí hậu trong môn học Lê Văn Khoa và cộng sự đã nêu ra các nguyên tắc lồng ghép Biến đổi khí hậu trong nội dung môn học: Đảm bảo mục tiêu giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của cấp, bậc học, góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo nói chung. Phải hướng việc giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu tới việc cung cấp cho học sinh những kiến thức về khí hậu và kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi. Nội dung giáo dục ứng phó biến đổi khí hậu phải chú trọng các vấn đề thực hành, trên cơ sở đó hình thành các kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của địa phương, của đất nước phù hợp với lứa tuổi học sinh. Phương pháp giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động tham gia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện vấn đề và tìm hướng giải TIEU LUAN MOI download19 : skknchat@gmail.com quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.
Tận dụng các cơ hội để giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời gian của bài học. Như vậy, 3 nguyên tắc cơ bản cần đảm bảo là: Không làm biến thể môn học, lồng ghép có chủ điểm, không tràn lan; tích cực khơi dậy kinh nghiệm sống của học sinh Một mặt khác, ngành Giáo dục có nhiều đặc thù khác với các ngành khác, nên trong công tác giáo dục, chỉ đạo cần đặc biệt chú ý vấn đề sau: Tính cộng tác và chia sẻ tổn thất, rủi ro: Ứng phó với biến đổi khí hậu đòi hỏi sự hợp tác giữa các trường trong một vùng, giữa các trường trong một miền, trong phạm vi quốc gia và quốc tế, đòi hỏi sự chia sẻ về thông tin, kinh nghiệm xử lý rủi ro và trong những trường hợp cụ thể cả về nhân lực và tài chính. Tính hành động thực tiễn: Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu là giáo dục hành động, tham gia để giải quyết những rủi ro của biến đổi khí hậu. Hiệu quả về nhận thức và hành động thực tiễn là thước đo chất lượng của nó.
Do đó, mỗi học sinh được giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ có thêm nhận thức, hiểu biết cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu, mà còn phải biết vận dụng các nguyên lý, nguyên tắc vào từng vấn đề rủi ro cụ thể, phải biết làm cái gì đó cho trường mình, trường bạn, cho cộng đồng, nghĩa là giáo dục ứng phó biến đổi khí hậu phải được tiến hành bằng cả phương thức hành động thực tiễn. Ứng phó biến đổi khí hậu do đó cũng rất cần nhưng số liệu cập nhật để dẫn chứng và chứng minh thông qua các nguồn thông tin mới, hiện đại, những kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học chuyên sâu về khí hậu và biến đổi khí hậu ở các cấp học cao hơn. [27, trang 289] TIEU LUAN MOI download20 : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2.