PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam, với 90,7 triệu dân vào năm 2015, trong đó có 39,8 triệu ngƣời dùng Internet đang hoạt động, chiếm tới 44% tổng dân số, tăng 12% so với năm 2012 (We Are Social, 2015). Thói quen trực tuyến đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong các hành vi mua sắm của ngƣời dân. Cuối năm 2013, tổng số giao dịch Thƣơng mại điện tử (TMĐT) Việt Nam đã đạt giá trị 2,2 tỷ USD và dự tính sẽ tăng gấp đôi vào năm 2015 (Cục TMĐT và CNTT, 2013).
Việt Nam tiếp tục đƣợc đánh giá là thị trƣờng tiềm năng cao, so với các quốc gia khu vực Đông Nam Á. TMĐT cũng là một lĩnh vực trọng điểm, đƣợc nhà nƣớc định hƣớng và có chính sách đầu tƣ bài bản và rõ ràng. Tuy nhiên, tốc phát triển quá nhanh, trong khi hạ tầng và kinh nghiệm chƣa kịp đáp ứng, TMĐT tại Việt Nam bộc lộ rất nhiều vấn đề và điểm yếu nhƣ hệ thống pháp lý, đội ngũ nhân sự, các phƣơng thức hỗ trợ thanh toán… đặc biệt là hệ thống Logistic. Trong khi môi trƣờng giao tiếp trong TMĐT giữa Doanh nghiệp và khách hàng đƣợc thực hiện chủ yếu qua các hệ thống ảo, Logistics có vai trò cầu nối giữa nhu cầu ngƣời mua với sản phẩm của ngƣời bán.
Với ý nghĩa đó, Logistics có ý nghĩa then chốt trong sự thành công của TMĐT. Tốc độ tăng trƣởng nhanh chóng của TMĐT đòi hỏi các hình thức Logistics phải có những biến đổi tích cực để đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế. Trong một vài năm gần đây, sự phát triển vƣợt bậc của các thiết bị di động thông minh, cùng với khả năng xác định chính xác vị trí ngƣời dùng càng làm thay đổi rất mãnh mẽ các cách thức mua sắm và giao hàng trên Internet trƣớc đó. Điều này chứng tỏ TMĐT Việt Nam nói chung, và Logistics nói riêng đang đứng trƣớc những xu hƣớng mới, và rất cần đƣợc nghiên cứu, cập nhật kiến thức mới.
Đây là lý do đề tài :«Logistics trong các mô hình Thƣơng mại điện tử trên thế giới - Một số giải pháp cho Việt Nam » đƣợc lựa chọn cho đề tài Luận văn Thạc sĩ này. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm bổ sung thêm các kiến thức về Logistics trong TMĐT và đề xuất các gợi ý về việc lựa chọn mô hình tổ chức Logistics trong TMĐT phù hợp với điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, đặc biệt là những công ty TMĐT B2C có quy mô vừa và nhỏ. Thông qua việc nghiên cứu lịch sử và xu hƣớng phát triển của Logistics, đề tài muốn làm rõ mối quan hệ, sự đóng góp và tầm quan trọng của Logistics trong TMĐT, nhất là trong TMĐT bán lẻ trực tuyến. Đề tài cũng sẽ tập trung cập nhật thêm các kiến thức về tổ chức Logistics TMĐT và các kinh nghiệm thực tiễn thông qua việc tìm hiểu các hoạt động Logistics đƣợc vận hành trong một số mô hình TMĐT lớn, thành công trên thế giới.
Các kiến thức này nhằm chỉ ra mối tƣơng quan và vị trí của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu, từ đó xác định xu hƣớng Logistics sẽ phát triên tại Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo và đề xuất các giải pháp để tổ chức Logistcs tƣơng ứng với thực tế ở Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu, đề tài nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: CH1 : Các đặc trƣng và những yêu cầu mới của Logistics trong TMĐT? CH2 : Vai trò và mức độ đóng góp của Logistics trong sự thành công của các mô hình TMĐT trên thế giới? CH3 : Phƣơng án tổ chức Logistics cho TMĐT trong điều kiện tại Việt Nam? Nhiệm vụ nghiên cứu Dựa trên mục đích nghiên cứu, đề tài xác định rõ các vấn đề cần đƣợc thực hiện trong nhiệm vụ nghiên cứu của mình nhƣ sau: - Nghiên cứu những vấn đề chung về Logistics trong TMĐT. - Phân tích về Logistics trong một số mô hình TMĐT lớn, phát triển trên thế giới. - Lý giải sự đóng góp của Logistics trong TMĐT.
2 - Phân tích thực trạng hoạt động Logistics trong một số mô hình TMĐT tại Việt Nam. - Chỉ ra một số rào cản về TMĐT liên quan đến Logistics và các nguyên nhân chính hạn chế sự phát triển của Logistics trong TMĐT tại Việt Nam. - Đề xuất một số giải pháp tổ chức Logistics trong TMĐT bán lẻ tƣơng ứng với các điều kiện kinh doanh tại Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài bao gồm các hoạt động về Logistics nhƣ chuỗi cung ứng, mua hàng, xử lý đơn hàng, quản lý tồn kho… trong một số mô hình TMĐT B2C thành công trên thế giới, cụ thể là Amazon và Walmart.
Đề tài cũng nghiên cứu về TMĐT và hoạt động Logistics trong TMĐT ở Việt Nam, đặc biệt là TMĐT B2C. Dƣới góc độ lý thuyết, đề tài nghiên cứu về các mối quan hệ của Logistics trong chuỗi cung ứng TMĐT. Phạm vi nghiên cứu Đề tài không đi sâu vào mức tác nghiệp mà nghiên cứu ở mức độ tổng quát để thấy đƣợc sự phối hợp và ảnh hƣởng qua lại giữa Logistics với chi phí kinh doanh và dịch vụ khách hàng, tác động của Logistics tới năng lực cạnh tranh của Công ty. Về mô hình TMĐT, đề tài giới hạn nghiên cứu trong phạm vi bán lẻ trực tuyến (TMĐT B2C).
Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu những mô hình mới, hiện đại trong những năm gần đây, (2002 – 2014). Kết cấu luận văn Ngoài phần giới thiệu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Logistics trong một số mô hình TMĐT trên thế giới.
Chƣơng 4: Logistics trong TMĐT tại Việt Nam và một số giải pháp. 3 CHƢƠNG 1 : TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Logistics trong kinh doanh là một ngành khoa học tƣơng đối mới.
« Physical Distribution Management. Logistics problems of the firm » của E. Mossman là cuốn sách đầu tiên về Logistics trong kinh doanh, xuất bản năm 1961, bắt đầu nhìn nhận Logistics nhƣ một ngành khoa học độc lập, tách khỏi khâu phân phối trong Marketing và khâu mua hàng trong quản trị sản xuất. Logistics ngay sau đó, thu hút đƣợc sự quan tâm chú ý rất nhanh của cả giới chuyên môn lẫn giới kinh doanh và có những bƣớc biến lớn cả về mặt nghiên cứu và ứng dụng.
Vào những năm 1970, các vấn đề nghiên cứu về Logistics tập trung vào hoạt động phân phối nhằm cắt giảm chi phí kinh doanh. Các nghiên cứu tiêu biểu nhƣ « Business Logistics, 2nd ed., The Ronald Press » của Heskett, J. Jr and Ivie, đƣợc xuất bản năm 1973 đã chứng minh đƣợc Logistics chiếm một lƣợng lớn tài nguyên và chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh, và chỉ ra rằng tối ƣu về Logistics là điều đang bị bỏ ngỏ, giải quyết các vấn đề về Logistics có thể đem lại lợi thế cạnh tranh rất lớn cho doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu gây đƣợc tiếng vang lớn, các doanh nghiệp sản xuất ngay sau đó đã tập trung tối ƣu khâu phân phối, vận tải, mở ra thời kỳ về phân phối vật chất trong Logistics.
Vào những năm 1980, các nghiên cứu về Logistics tiếp tục có những bƣớc tiến lớn khi chứng minh đƣợc hiệu quả của Logistics có thể tăng lên khi nhìn nhận Logistics dƣới góc độ tổng thể về sự đánh đổi chi phí giữa các khâu nhỏ lẻ. Nghiên cứu của Jack W. Farrell vào năm 1985 có tên « New Clout for Logistics » đã chứng minh quan điểm về Logistics tích hợp mang lại lợi thế cạnh tranh tốt hơn cho công ty, cải thiện lợi nhuận, tăng cƣờng mối quan hệ với cả nhà cung cấp lẫn khách hàng. Các nghiên cứu Logistics thời kỳ hƣớng tới việc tích hợp các hoạt động Logistics trong công ty trong một góc nhìn hoàn chỉnh.
4 Các nghiên cứu trong giai đoạn sau 1990 phát triển một lý thuyết mới về Logistics, trong đó xem xét hoạt động Logistics dƣới mối quan hệ của hàng loạt các công ty, đơn vị liên quan, chạy dọc theo chuỗi biến đổi của sản phẩm, và đƣợc gọi là chuỗi cung ứng. Lý thuyết về chuỗi cung ứng nhằm giải quyết các vấn đề về sản xuất đa quốc gia, có sự hội nhập, trong một chuỗi cung ứng có thể có sự tham gia của rất nhiều thành viên, ở những vùng địa lý khác nhau và có mức độ đóng góp, phối hợp khác nhau. Tác phẩm « Integrated Logistics Management: The Trend Continues » của Ronald E. Seger và William J.
Best phát hành năm 1986 và một tác phẩm tiên phong cho xu hƣớng mới mẻ này. Trong lĩnh vực TMĐT, thời kỳ ban đầu, Logistics đƣợc áp dụng theo các lý thuyết về Logistics truyền thống nhƣng ngay sau đó, các lý thuyết này tỏ ra không phù hợp bởi các đặc trƣng của TMĐT đòi hỏi những khác biệt rất lớn về kênh phân phối, xử lý đơn hàng, quản lý tồn kho… Tính đến thời điểm hiện nay (Sau năm 2010), các nghiên cứu về Logistics cho TMĐT vẫn còn là đề tài mới mẻ và đang bắt đầu thu hút đƣợc quan tâm ngày một lớn. Tác phẩm « E-Commerce Logistics & Fulfillment: Delivering the Goods » của Deborah L. Bayles năm 2000 là một trong các tác phẩm đƣợc trích dẫn rất nhiều về lĩnh vực này.
Các học giả Trung Quốc có tƣơng đối nhiều nghiên cứu chi tiết về Logistics TMĐT từ khá sớm nhƣ Logistics, E- commerce Engineering Textbook Series từ năm 1991 của Pu Xiao, Jin Si Shi Gang, Deng Bian Zhu hay gần đây nhất là Logistics and e-commerce logistics management xuất bản năm 2013 của Zhang Jin Shan là một tác phẩm khá chuyên sâu về Logistics TMĐT. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Nghiên cứu về Logistics tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mảng Logistics truyền thống. Về mặt lý thuyết, tác phẩm « Logistics những vấn đề cơ bản » của Đoàn Thị Hồng Vân là một trong các tác phầm đầy đủ và hoàn chỉnh nhất, về các khía cạnh của Logistics. Các đề tài nghiên cứu về Logistics khá đa dạng, bao gồm các nghiên cứu về công ty chuyên cung cấp dịch vụ Logistics, Logistics trong các đơn vị sản xuất kinh doanh hay Logistics trong nền kinh tế nhƣ « Nghiên cứu kinh nghiệm 5 quốc tế về dịch vụ hậu cần (logistics) và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam » do Viện Nghiên cứu Thƣơng mại, Bộ Thƣơng mại thực hiện cung cấp cách nhìn tổng quát về sự ảnh hƣởng của Logistics.