phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi phí tại Bƣu điện Thành Phố Thủ Dầu Một. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi phí tại Bƣu điện Thành Phố Thủ Dầu Một. 7 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số vấn đề chung về kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về kiểm soát trong quản trị Theo quan điểm quản trị học, kiểm soát là quá trình đo lƣờng kết quả thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân sự sai lệch để đƣa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm khắc phục sự sai lệch hoặc có nguy cơ sai lệch, đảm bảo tổ chức đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Kiểm soát là một chức năng và là một công cụ quan trọng của nhà quản trị, giúp nhà quản trị có những thông tin phản hồi nhằm khắc phục những sai sót của công tác quản trị, đảm bảo cho mọi hoạt động trong doanh nghiệp đƣợc thực hiện theo đúng kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu đề ra.N (1964), “kiểm soát là quá trình đảm bảo rằng các nguồn lực đƣợc thu thập và sử dụng có hiệu quả và hiệu quả trong việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức”. Anthony và các cộng sự (1989), “kiểm soát là một quá trình bao gồm một tập hợp các thay đổi từ giai đoạn lập kế hoạch cho đến khi những kế hoạch này đƣợc thực hiện xong”.N(2007),định nghĩa kiểm soát trên khía cạnh quản lý doanh nghiệp “kiểm soát quản lý là quá trình các nhà quản lý ảnh hƣởng đến các thành viên khác trong tổ chức để thực hiện các chiến lƣợc của tổ chức”.
Hansen and Maryanne M. Mowen (2006), “kiểm soát là quá trình thiết lập các tiêu chuẩn, nhận phản hồi về hiệu suất thực tế và thực hiện hành động khắc phục bất cứ khi nào hiệu suất thực tế có sự khác biệt đáng kể so với hiệu suất kế hoạch”. Nhƣ vậy, kiểm soát trong doanh nghiệp điều hƣớng đến hoàn thành các mục tiêu đề ra, và để làm đƣợc điều đó, các nhà quản trị phải luôn thực hiện chức năng kiểm soát không chỉ đối với những sự việc đang diễn ra và đã kết thúc mà còn với những sự việc sắp diễn ra, nó giúp doanh nghiệp có các biện pháp đối phó với những nguy cơ có thể xảy ra nhằm giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất. Thông qua hoạt động kiểm soát nhà quản trị sẽ có đầy đủ các thông tin và nhận định đƣợc các vấn đề cần 8 phát huy để định hƣớng tiếp tục phát triễn hoặc phát hiện những hạn chế để thiết lập các biện pháp và hoạt động điều chỉnh kịp thời những sai sót quan trọng.
Phân loại kiểm soát trong quản trị Tùy vào mục tiêu kiểm soát mà doanh nghiệp đặc ra cũng nhƣ đối tƣợng đƣợc kiểm soát trong mối quan hệ với nhà quản trị tạo ra sự đa dạng của các loại hình kiểm soát. Các loại hình kiểm soát cần đƣợc tổ chức sao cho phù hợp với loại hình doanh nghiệp, đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý, điều kiện kinh tế, xã hội,… hƣớng tới hiệu quả sử dụng các nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra. Do đó, các nhà quản trị cần lựa chọn các tiêu chí phù hợp để phân loại kiểm soát sau: - Theo nội dung kiểm soát: kiểm soát tổ chức và kiểm soát kế toán: Kiểm soát tổ chức: đƣợc thiết lập nhằm đảm bảo sự tuân thủ và tính hiệu quả của tổ chức đối với các chính sách, kế hoạch, quy định hiện hành; đảm bảo các hoạt động đƣợc diễn ra theo mục tiêu quản lý; đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Kiểm soát tổ chức hƣớng tới xây dựng các mục tiêu, chƣơng trình hoạt động, triển khai các thủ tục kiểm soát, đồng thời tìm ra những chính sách thủ tục tốt, hoàn thiện hơn.
Kiểm soát kế toán bao gồm các kế hoạch, tổ chức và các trình tự hồ sơ cần thiết cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ sách, báo cáo tài chính, do đó phải đảm bảo hợp lý rằng: các nghiệp vụ đƣợc tiến hành theo sự chỉ đạo chung hoặc cụ thể của quản lý; các nghiệp vụ đƣợc ghi sổ là cần thiết để lập báo cáo tài chính trên cơ sở các nguyên tắc kế toán chung đƣợc chấp nhận rộng rãi hoặc các tiêu chuẩn áp dụng và duy trì khả năng hạch toán của tài sản; chỉ khi đƣợc sự phê chuẩn của nhà quản lý mới đƣợc sử dụng tài sản; tài sản đƣợc ghi sổ phải đƣợc đối chiếu với tài sản thực có tại thời điểm thích hợp và phải có sự điều chỉnh phù hợp khi có sự chênh lệch. - Kiểm soát theo thời gian: kiểm soát trƣớc, trong và sau các hoạt động: Kiểm soát trƣớc là kiểm soát đƣợc tiến hành trƣớc khi hoạt động xảy ra về mặt nhân sự, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,… đảm bảo sẵn sàng về chủng loại, số lƣợng, chất lƣợng đáp ứng nhu cầu cần thiết cho hoạt động. 9 Kiểm soát trong hoạt động là kiểm soát trong khi thực hiện các hoạt động, đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục, quy trình đã đƣợc thiết lập trƣớc đó hƣớng đến mục tiêu đề ra. Kiểm soát sau hoạt động là hoạt động kiểm soát sau khi hoạt động đã kết thúc thông qua đo lƣờng các kết quả công việc để điều chỉnh, sửa chữa, khắc phục các vấn đề xảy ra và đề ra các biện pháp phòng ngừa cho tƣơng lai.
- Kiểm soát theo mục đích kiểm soát: kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp (điều chỉnh): Kiểm soát ngăn ngừa là hoạt động kiểm soát nhằm ngăn chặn, giảm thiểu khả năng xảy ra sai sót, gian lận ảnh hƣởng đến việc đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động này tập trung vào việc xây dựng các cơ chế, quy định, chính sách, quy trình, thủ tục làm khuôn mẫu để nhân viên thực hiện. Kiểm soát phát hiện là hoạt động kiểm soát nhằm phát hiện kịp thời các hành vi sai sót và gian lận nào đó đã đƣợc thực hiện. Kiểm soát bù đắp (điều chỉnh) là việc tăng cƣờng hoặc thay thế các hoạt động kiểm soát kém hiệu quả hoặc không còn cần thiết bằng các hoạt động kiểm soát khác hiệu quả hơn sau khi phát hiện có gian lận và sai sót.
- Kiểm soát theo chức năng quản lý: kiểm soát chiến lƣợc và kiểm soát hoạt động: Kiểm soát chiến lƣợc là quá trình đánh giá chiến lƣợc hoạt động sau khi tiến hành xây dựng và thực hiện. Kiểm soát chiến lƣợc là việc kiểm tra, đo lƣờng và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp và mọi bộ phận trong doanh nghiệp để hoàn thành mục tiêu đặc ra. Đây là công việc thƣờng xuyên của nhà quản trị doanh nghiệp và chủ đầu tƣ. Kiểm soát hoạt động là sự đánh giá của nhà quản trị đối với những thành quả của nhân viên, bộ phận có đạt đƣợc yêu cầu của nhà quản trị và có cần điều chỉnh chiến lƣợc không.
- Theo mối quan hệ giữa chủ thể kiểm soát và khách thể kiểm soát: kiểm soát nội bộ và kiểm soát từ bên ngoài 10 Kiểm soát nội bộ là hoạt động kiểm soát do doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích quản trị nội bộ. Kiểm soát từ bên ngoài là loại kiểm soát do chủ thể từ bên ngoài thực hiện. Nhƣ vậy, kiểm soát có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau và việc phân loại chỉ mang tính tƣơng đối tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Ngày nay chức năng kiểm soát gắn liền với tƣ tƣởng phòng ngừa, kiểm soát quá trình, sự tham gia của con ngƣời với vai trò là chủ quá trình và quan hệ mật thiết với quản trị rủi ro để đạt đƣợc mục tiêu cũng nhƣ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Kiểm soát chi phí là sự hƣớng dẫn và điều chỉnh bằng hành động theo chi phí dự toán. Kiểm soát chi phí bao gồm xác định trƣớc chi phí mục tiêu, đo lƣờng các chi phí thực tế, điều tra nguyên nhân của các chênh lệch và tiến hành các hành động khắc phục (Periasamy, P.,2010) Kiểm soát chi phí là một chức năng quản lý có ý thức và rất quan trọng trong quá trình quản lý của doanh nghiệp. Đó là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm nhận biết, hiểu biết các nội dung chi phí nhằm sử dụng hiệu quả nhất các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra (Nguyễn Đại Thắng, 2003).
Kiểm soát chi phí là một phần của hoạt động kiểm soát trong quản trị doanh nghiệp. Trong hoạt động kiểm soát thì KSCP là hoạt động kiểm soát chủ yếu và có ý nghĩa sống còn của bất cứ doanh nghiệp nào vì nó giúp phát hiện các chi phí thực hiện vƣợt mức chi phí kế hoạch để doanh nghiệp có hành động điều chỉnh nhằm loại bỏ chi phí vƣợt mức hoặc giảm thiểu sự ảnh hƣởng của nó đến mức thấp nhất. Nhƣ vậy, có thể nói KSCP là một chức năng quản lý có ý thức và rất quan trọng trong quá trình quản trị chi phí và quản trị doanh nghiệp. Đó là sự tác động của chủ thể quản lý lên các đối tƣợng kiểm soát thông qua các công cụ kiểm soát để đo lƣờng, đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản chi phí và đƣa ra các giải pháp điều chỉnh nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Mục đích kiểm soát chi phí và tổ chức hoạt động kiểm soát chi phí 11 1. Mục đích kiểm soát chi phí Mục đích hƣớng tới của kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp là: - Đảm bảo các nguồn lực đƣợc sử dụng một cách hiệu quả và phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; - Kiểm soát chi phí giúp nhà quản trị có thể dự đoán đƣợc những rủi ro có thể xảy ra và chiều hƣớng biến động chi phí trong các hoạt động của doanh nghiệp để kịp thời có những biện pháp điều chỉnh; - Kiểm soát chi phí giúp nhà quản trị phát hiện kịp thời các sai lệch về chi phí thực hiện so với kế hoạch để đƣa ra những biện pháp điều chỉnh và ghi nhận để xây dựng kế hoạch chi phí cho tƣơng lai; - Kiểm soát chi phí giúp doanh nghiệp cắt giảm các khoản chi phí hoạt động mà vẫn mang lại hiệu quả kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh.