phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về cán cân thƣơng mại và thâm hụt cán cân thƣơng mại Nội dung của chƣơng I đề cập đến những lý thuyết chung nhất về cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thƣơng mại, phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến cán cân 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣơng mại và phƣơng pháp điều chỉnh cán cân thƣơng mại của một số nƣớc trên thế giới. Chƣơng II: Thực trạng thâm hụt cán cân thƣơng mại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chƣơng này nói về tình trạng cán cân thƣơng mại Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, trong đó tập trung phân tích cơ cấu chủ thể, mặt hàng, thị trƣờng xuất khẩu, nhập khẩu năm 2009; trên cơ sở đó, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân thƣơng mại của Việt Nam thời gian qua. Chƣơng III: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu sự thiếu hụt cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới Chƣơng ba, dựa trên những phân tích ở chƣơng hai kết hợp với bài học kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới, đƣa ra một số giải pháp mang tính gợi ý hƣớng tới cải thiện cán cân thƣơng mại mà vẫn thực hiện đƣợc mục tiêu tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Đăng Tài đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Dù đã cố gắng nhƣng không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc triển khai đề tài, em rất mong nhận đƣợc sự thông cảm và góp ý của thầy cô và các bạn để chuyên đề của em đƣợc hoàn thiện hơn. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁN CÂN THƢƠNG MẠI VÀ THÂM HỤT CÁN CÂN THƢƠNG MẠI I. Cán cân thƣơng mại 1 Cán cân thanh toán quốc tế 1.1 Khái niệm cán cân thanh toán quốc tế Trƣớc chiến tranh thế giới II, mỗi quốc gia biên lập cán cân thanh toán quốc tế (CCTTQT) theo cách riêng của mình. Sau khi Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣợc thành lập và công bố một mẫu CCTTQT thống nhất áp dụng cho các nƣớc thành viên, hầu hết các quốc gia đều thấy mẫu này đơn giản, khoa học nên cùng áp dụng.
Theo quan điểm của IMF đƣợc trình bày trong Balance of Payments and International Investment Position Manual (BPM6), cán cân thanh toán quốc tế (the balance of payments) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm mục hàng hóa và dịch vụ (the goods and services account), mục thu nhập cơ bản (the primary income account), mục thu nhập thứ yếu (the secondary income account), tài khoản vốn ( the capital account) và tài khoản tài chính (the financial account).1 Ngoài ra, chúng ta còn có thể tìm hiểu về cán cân thanh toán qua những sách kinh tế vĩ mô, tài chính quốc tế, thanh toán quốc tế. Các định nghĩa về cán cân thanh toán quốc tế trong những tài liệu này cơ bản là giống nhau: “cán cân thanh toán quốc tế (The Balance of Payments – viết tắt là BOP hay BP) là một bản báo cáo thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép lại giá trị tất cả các giao dịch kinh tế giữa ngƣời cƣ trú với ngƣời không cƣ trú trong một thời kỳ nhất định, thƣờng là 1 năm”2. Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành một số văn bản pháp luật về cán cân thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, các quy định và hƣớng dẫn thi hành vẫn theo BPM5 mà IMF ban hành năm 1993.
Cụ thể: 1 Dịch theo định nghĩa về cán cân thanh toán tại trang 9 cuốn BPM6 2 Theo Giáo trình tài chính quốc tế của PGS. Nguyễn Văn Tiến 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.17 Pháp lệnh ngoại hối 2005: “CCTTQT là bảng cân đối tổng hợp thống kê một cách có hệ thống toàn bộ các giao dịch kinh tế giữa Việt Nam và các nƣớc khác trong 1 khoảng thời gian nhất định”. Điều 1 Nghị định số 164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, “Cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam (sau đây gọi tắt là cán cân thanh toán) là bảng tổng hợp có hệ thống toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa Ngƣời cƣ trú và Ngƣời không cƣ trú trong một thời kỳ nhất định.” Trong các định nghĩa trên, chúng ta đều gặp thuật ngữ “giao dịch kinh tế” (giao dịch), “ngƣời cƣ trú” và “ngƣời không cƣ trú”: "Giao dịch kinh tế là các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, thu nhập của ngƣời lao động, thu nhập về đầu tƣ chuyển giao vãng lai một chiều, chuyển giao vốn một chiều, chuyển vốn vào Việt Nam, chuyển vốn từ Việt Nam ra nƣớc ngoài trong lĩnh vực đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ vào giấy tờ có giá, vay và trả nợ nƣớc ngoài, cho vay và thu hồi nợ nƣớc ngoài, các hình thức đầu tƣ khác và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật Việt Nam làm tăng hoặc giảm tài sản có hoặc tài sản nợ giữa Ngƣời cƣ trú với Ngƣời không cƣ trú".3 Về khái niệm “ngƣời cƣ trú” và “ngƣời không cƣ trú”, mỗi quốc gia đều hiểu theo luật định và tƣơng đối thống nhất. Căn cứ xác định “ngƣời cƣ trú” hay “không cƣ trú” chủ yếu dựa vào quy định thời gian sinh sống, làm việc liên tục, cần thiết tại quốc gia đó của nƣớc sở tại, thƣờng là 1 năm (hoặc hơn 6 tháng).
Tại Việt Nam, khái niệm “ngƣời cƣ trú” và “ngƣời không cƣ trú” đƣợc quy định tại khoản 2 và 3 Điều 3 Nghị định 164/1999/NĐ-CP. Trong thực tế cần chú ý rằng các tổ chức quốc tế nhƣ IMF, WB, UN. là ngƣời không cƣ trú đối với mọi quốc gia; các đại sứ quán, căn cứ quân sự nƣớc ngoài, các lƣu học sinh, khách du lịch. bất kể thời hạn cƣ trú đều là ngƣời không cƣ trú; đối với các công ty đa quốc gia để tránh trùng lặp thì các chi nhánh của công ty đặt tại nƣớc nào thì đƣợc coi là ngƣời cƣ trú của nƣớc đó.
3 Khoản 1, Điều 3 của Nghị định 164/1999/NĐ-CP 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nội dung kết cấu của Cán cân thanh toán quốc tế Tất cả các giao dịch của nền kinh tế (không kể NHNN) đƣợc phản ánh tại cán cân tổng thể (Overall Balance – OB). Tất cả các hoạt động can thiệp của NHNN đƣợc phản ánh tại cán cân bù đắp chính thức (Official Financing Balance – OFB). Các giao dịch của nền kinh tế rất phong phú và đa dạng nên cán cân tổng thể đƣợc tổng hợp từ nhiều cán cân bộ phận. Theo BPM5, OB gồm hai cán cân chính là cán cân vãng lai (Current account – CA), cán cân vốn và tài chính (Capital and financial account).
Theo BPM6, OB gồm ba cán cân lớn là cán cân vãng lai, cán cân vốn và cán cân tài chính. Tuy nhiên, do cấu trúc cán cân thanh toán theo BPM6 (chi tiết tham khảo BPM6 p301-308) chƣa đƣợc áp dụng tại Việt Nam nên trong khuôn khổ bài luận văn, nội dung của CCTTQT vẫn đƣợc trình bày nhƣ BPM5.1 Cán cân vãng lai (Tài khoản vãng lai - Current account) “Cán cân vãng lai đƣợc tổng hợp toàn bộ các chỉ tiêu về giao dịch kinh tế giữa ngƣời cƣ trú và ngƣời không cƣ trú về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập của ngƣời lao động, thu nhập từ đầu tƣ trực tiếp, thu nhập từ đầu tƣ vào giấy tờ có giá, lãi vay và lãi tiền gửi nƣớc ngoài, chuyển giao vãng lai một chiều và các giao dịch khác theo quy định của pháp luật”. 4 Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của ngƣời cƣ trú trong nƣớc cho ngƣời cƣ trú ngoài nƣớc đƣợc ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ đƣợc ghi bằng mực đỏ); còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của ngƣời cƣ trú ngoài nƣớc cho ngƣời cƣ trú trong nƣớc đƣợc ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen). Theo BPM5 do IMF biên soạn, tài khoản vãng lai bao gồm: Cán cân thƣơng mại (Trade Balance): Phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và các khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa.
Các khoản thu từ xuất khẩu đƣợc phản ánh bên “Có” với dấu “+” và chi cho nhập khẩu hàng hoá ghi ở bên “Nợ” với dấu “-”. Có nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến tình trạng của cán cân thƣơng mại nhƣ: tỷ giá, lạm phát, giá cả hàng hoá, chính sách thƣơng mại. 4 Khoản 1, Điều 6- Nghị định 164/1999/NĐ-CP 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cán cân dịch vụ (Servies): Bao gồm các khoản thu, chi từ các hoạt động dịch vụ về vận tải, tài chính, viễn thông, y tế, giáo dục và các dịch vụ khác. Các dịch vụ cung ứng cho ngƣời không cƣ trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ, đƣợc ghi vào bên “Có” với dấu “+” và các dịch vụ nhận cung ứng phát sinh cầu ngoại tệ sẽ ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”.
Giá trị dịch vụ xuất nhập khẩu chịu ảnh hƣởng bởi các nhân tố bao gồm: Thu nhập, tỷ giá, giá cả dịch vụ và các yếu tố về tâm lý, chính trị, xã hội. Cán cân thu nhập (Incomes): Bao gồm những khoản thu nhập của ngƣời lao động (tiền lƣơng, thƣởng) và thu nhập từ đầu tƣ (lợi nhuận đầu tƣ trực tiếp, lãi từ đầu tƣ vào giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa ngƣời cƣ trú và không cƣ trú). Các khoản thu nhập của ngƣời cƣ trú đƣợc trả bởi ngƣời không cƣ trú sẽ làm tăng cung ngoại tệ nên đƣợc ghi vào bên “Có” với dấu “+”; ngƣợc lại, các khoản chi trả cho ngƣời không cƣ trú sẽ làm phát sinh cầu ngoại tệ, đƣợc ghi vào bên “Nợ” với dấu “-”. Các nhân tố ảnh hƣởng đến cán cân thu nhập bao gồm quy mô thu nhập (mức tiền lƣơng, thƣởng, tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động đầu tƣ và lãi suất) và các yếu tố thuộc môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội.
Cán cân chuyển giao vãng lai (Current transfers): Bao gồm những khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng giữa ngƣời cƣ trú và không cƣ trú; phản ánh sự phân phối lại thu nhập.