Tổng quan nghiên cứu

Tính đến hết năm 2016, toàn hệ thống thi hành án dân sự trên toàn quốc phải thụ lý tổ chức thi hành trên 836.054 việc, trong đó số việc tồn đọng chuyển kỳ sau lên tới 290.429 việc, chiếm gần 35% tổng số việc, tương ứng với số tiền phải thi hành là 104.520 tỷ 864 triệu đồng. Thực trạng lượng án tồn đọng kéo dài không chỉ gây thất thoát tài sản của Nhà nước và công dân mà còn làm suy giảm niềm tin vào tính nghiêm minh của pháp luật theo tinh thần Điều 106 Hiến pháp năm 2013. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật với đề tài giải pháp khắc phục thực trạng án tồn đọng trong thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Nghệ An được thực hiện nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và giải pháp thực tiễn toàn diện. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá đúng thực trạng phân loại việc thi hành án, làm rõ nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan tại 21 đơn vị cấp huyện và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2016. Về mặt giá trị ứng dụng, công trình cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý chỉ đạo, phấn đấu nâng tỷ lệ thi hành xong trên 75% về việc và trên 35% về tiền, đồng thời đóng góp bài học kinh nghiệm điển hình cho tiến trình cải cách tư pháp trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa hoạt động xét xử và hiệu lực cưỡng chế tư pháp của Nhà nước. Đồng thời, tác giả tiếp cận lý thuyết quản trị tư pháp hiện đại và nguyên tắc thượng tôn pháp luật nhằm làm rõ 3 khái niệm nền tảng: thi hành án dân sự, án tồn đọng và phân loại điều kiện thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Khái niệm thi hành án dân sự được xác định là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước nhằm hiện thực hóa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Khái niệm án tồn đọng được định nghĩa chuẩn xác là toàn bộ các quyết định thi hành án chưa được thi hành tại mốc thời điểm kết thúc năm công tác từ ngày 01 tháng 10 năm trước đến ngày 30 tháng 9 năm sau theo quy định tại Thông tư 01/2013/TT-BTP của Bộ Tư pháp và phải chuyển kỳ sau tiếp tục giải quyết. Nghiên cứu còn đối chiếu mô hình tổ chức của các quốc gia phát triển như Nhật Bản với cơ chế tạm ứng phí thi hành án bắt buộc, Hoa Kỳ với quy tắc hoàn trả lệnh thi hành sau 180 ngày nếu không có tài sản, và Liên bang Nga theo Điều 353, Điều 374 Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền xác minh tài sản bắt buộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An và 21 Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc trong giai đoạn 9 năm từ 2008 đến 2016. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 15.820 hồ sơ thi hành án được phân loại chi tiết qua các năm, kết hợp phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng 350 hồ sơ án phức tạp tại các địa bàn trọng điểm như thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và huyện Diễn Châu. Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phương pháp thống kê xã hội học pháp luật, phương pháp tổng hợp - so sánh luật học và phương pháp phân tích quy phạm. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đảm bảo tính định lượng xác thực, phân tách minh bạch giữa án có điều kiện thi hành nhưng bị trì hoãn do nguyên nhân chủ quan và án chưa có điều kiện thi hành do đương sự thực sự không có tài sản theo Điều 44a Luật Thi hành án dân sự.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ số việc và số tiền tồn đọng chuyển kỳ sau tại Nghệ An trong giai đoạn 2008 - 2016 luôn duy trì ở mức cao, dao động từ 31% đến 36% tổng số việc thụ lý mỗi năm, tương ứng với hàng nghìn tỷ đồng chưa được xử lý dứt điểm. Thứ hai, cơ cấu phân loại án cho thấy nhóm việc chưa có điều kiện thi hành chiếm tỷ trọng áp đảo, lên tới 62% đến 68% trong tổng số việc tồn đọng hàng năm. Thứ ba, kết quả xác minh thực tế chỉ ra có khoảng 15% số việc đủ điều kiện thi hành nhưng bị kéo dài nhiều năm do đương sự cố tình tẩu tán tài sản, chống đối quyết liệt hoặc cơ quan có thẩm quyền chậm trễ ban hành quyết định cưỡng chế. Thứ tư, số lượng văn bản hướng dẫn nghiệp vụ ban hành sau Luật năm 2008 gồm 6 Nghị định, 18 Thông tư liên tịch và 25 Thông tư chuyên ngành đã tạo khung pháp lý rộng nhưng phát sinh nhiều điểm chồng chéo khi áp dụng tại địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của tình trạng tồn đọng bắt nguồn từ cả góc độ chủ quan lẫn khách quan. Về mặt chủ quan, áp lực công việc đối với đội ngũ Chấp hành viên là rất lớn khi toàn quốc đến ngày 30 tháng 9 năm 2016 có 9.044 Chấp hành viên, 659 Thẩm tra viên và 1.760 Thư ký nhưng phải giải quyết khối lượng án tăng trung bình 12% mỗi năm. Năng lực chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ thi hành án còn hạn chế, dẫn đến tâm lý e ngại cưỡng chế các vụ việc phức tạp. Về mặt khách quan, ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án chưa cao, tình trạng đương sự che giấu thu nhập diễn ra phổ biến. Khi biểu diễn qua Biểu đồ 2.1 về diễn biến tỷ lệ việc tồn đọng và Biểu đồ 2.2 về cơ cấu số tiền tồn đọng giai đoạn 2008 - 2016, dữ liệu minh chứng đường xu hướng gia tăng liên tục của số tiền phải thi hành trên một đầu việc. So sánh với cơ chế quản lý của Liên bang Nga theo Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 185 Bộ luật Hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự người cất giấu tài sản, thực tiễn tại Việt Nam còn thiếu chế tài nghiêm khắc để răn đe hành vi trốn tránh nghĩa vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp luật thi hành án dân sự: Kiến nghị Bộ Tư pháp và Quốc hội rà soát, sửa đổi Luật Thi hành án dân sự cùng Nghị định 62/2015/NĐ-CP, luật hóa quy định buộc người phải thi hành án phải kê khai trung thực toàn bộ tài sản trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận quyết định, hướng tới mục tiêu giảm 10% đến 15% lượng án tồn đọng hàng năm trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ hai, thực hiện tổng rà soát và chuẩn hóa quy trình phân loại án: Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An cần chỉ đạo 21 Chi cục trực thuộc tiến hành kiểm tra định kỳ 100% hồ sơ thụ lý vào ngày 30 tháng 9 hàng năm, niêm yết công khai danh sách người chưa có điều kiện thi hành án trên trang thông tin điện tử và tại trụ sở UBND cấp xã.

Thứ ba, kiện toàn bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đề xuất Bộ Tư pháp phân bổ bổ sung biên chế Chấp hành viên, định kỳ hàng quý tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng xác minh tài sản và cưỡng chế kê biên, phấn đấu đạt tỷ lệ giải quyết xong trên 75% về việc và 35% về tiền trên tổng số án có điều kiện thi hành.

Thứ tư, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành: Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp tỉnh và cấp huyện cần duy trì họp giao ban định kỳ 6 tháng một lần, ký kết quy chế phối hợp cưỡng chế với lực lượng Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và các tổ chức tín dụng để phong tỏa tài khoản ngân hàng trong vòng 24 giờ kể từ khi có yêu cầu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký tại các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An và các địa phương khác, nhằm tra cứu cẩm nang xử lý các tình huống phân loại án khó, xác minh tài sản và kỹ năng tổ chức cưỡng chế an toàn.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự và cơ quan tư pháp, sử dụng hệ thống dữ liệu 9 năm từ 2008 đến 2016 làm cơ sở thực chứng để sửa đổi luật chuyên ngành.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các cơ sở đào tạo luật học, khai thác công trình như một tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Thứ tư, luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng, nắm bắt quy trình cưỡng chế và bảo vệ tối đa quyền lợi thu hồi nợ xấu trong các vụ án kinh doanh thương mại.

Câu hỏi thường gặp

Kỳ báo cáo thống kê án tồn đọng trong thi hành án dân sự được tính như thế nào? Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 01/2013/TT-BTP của Bộ Tư pháp, năm thống kê bắt đầu từ ngày 01 tháng 10 năm trước và kết thúc vào ngày 30 tháng 9 năm sau. Mọi việc chưa thi hành xong tại mốc này đều phải tổng hợp chuyển kỳ sau.

Tiêu chuẩn pháp lý để xác định việc chưa có điều kiện thi hành án là gì? Căn cứ Điều 44a Luật Thi hành án dân sự sửa đổi năm 2014, việc chưa có điều kiện thi hành là trường hợp đương sự không có tài sản, thu nhập chỉ đủ duy trì mức sống tối thiểu hoặc không thể xác định được nơi cư trú.

Thời hạn Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án là bao lâu? Theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự, thời hạn ra quyết định theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, đối với quyết định phá sản là 03 ngày làm việc, và phải ra ngay lập tức đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Kinh nghiệm quốc tế của Nhật Bản giúp hạn chế án tồn đọng bằng cách nào? Pháp luật Nhật Bản quy định người yêu cầu thi hành án phải nộp trước một khoản lệ phí và đặt cọc chi phí thực tế. Nếu không nộp đủ, Chấp hành viên có quyền từ chối thụ lý, giúp loại bỏ các yêu cầu ảo và giảm gánh nặng ngân sách.

Luận văn đã sử dụng bao nhiêu hồ sơ thực tế tại địa bàn tỉnh Nghệ An? Tác giả đã khảo sát toàn diện dữ liệu thi hành án tại 21 cơ quan thi hành án cấp huyện với hơn 15.000 hồ sơ nghiệp vụ trong suốt giai đoạn 9 năm từ 2008 đến 2016 để rút ra các kết luận khoa học.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thi hành án dân sự và xác lập định nghĩa chuẩn xác về án tồn đọng theo chu kỳ công tác của ngành tư pháp.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng rõ nét về tình trạng án tồn đọng tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2008 - 2016 với tỷ lệ chuyển kỳ sau chiếm từ 31% đến 36% tổng thụ lý.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên bang Nga để chọn lọc các giải pháp tương thích với thể chế Việt Nam.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao từ hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực 9.044 Chấp hành viên toàn quốc đến cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Đặt ra lộ trình triển khai từ năm 2018 nhằm kéo giảm căn bản lượng án tồn, kêu gọi các cơ quan thi hành án dân sự đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường kỷ cương tư pháp.