đặt vấn đề huy động nguồn vốn lên hàng đầu trong công tác kinh doanh của mình (Nguyễn Thanh Toàn, 2016), bởi vì: Nguồn vốn huy động là nguồn chính tạo nguồn ngân quỹ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm duy trì hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Huy động vốn góp phần tăng năng lực thanh toán của ngân hàng trên thị trường và khẳng định vị thế của ngân hàng mình với các đối thủ cạnh tranh. Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các ngân hàng luôn phải nỗ lực mở rộng quy mô, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn chuyên nghiệp, phương tiện kỹ thuật và công nghệ, máy móc hiện đại. để xử lý nghiệp vụ nhanh,chính xác nhằm giải phóng nhanh khách hàng, tăng khả năng thu hút nguồn vốn, thậm chí, các ngân hàng thương mại còn tăng lãi suất huy động (“chạy đua lãi suất”), áp dụng các hình thức khuyến mãi,.
để thu hút nguồn vốn (Nguyễn Thanh Toàn, 2016). Đối với nền kinh tế, nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại sẽ thu hút, tập trung được các nguồn vốn nhàn rỗi rải rác trong các tầng lớp dân cư cho việc phát triển kinh tế – xã hội (Nguyễn Thanh Toàn, 2016). Mỗi một quốc gia muốn có một nền kinh tế phát triển cao và bền vững thì điều kiện cần đầu tiên là phải tập trung được một lượng vốn lớn vào đầu tư, tăng năng lực sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều cho xã hội. Trong các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, ngân hàng thương mại là kênh dẫn vốn hiệu quả và ít tốn kém nhất.
Ngân hàng thương mại là khâu trung gian, kết nối những nguồn vốn riêng lẻ, nhàn rỗi trong xã hội tập trung thành nguồn vốn tự có lớn, đáp ứng các nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại nguồn vốn và hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 2. Các cách phân loại huy động vốn a.
Theo hình thức huy động vốn * Vốn huy động tiền gửi -Tiền gửi các tổ chức kinh tế +Tiền gửi không kỳ hạn +Tiền gửi có kỳ hạn -Tiền gửi dân cư +Tiền gửi tiết kiệm: Hiện tại Agribank Việt Nam đã ban hành 18 sản phẩm tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm trả lãi sau toàn bộ, tiền gửi tiết kiệm trả lãi sau định kỳ, tiền gửi tiết kiệm trả lãi trước toàn bộ, tiền gửi tiết kiệm trả lãi trước định kỳ (Nguyễn Thanh Toàn, 2016). +Tiền gửi thanh toán Với 6 sản phẩm tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn trả lãi sau toàn bộ, tiền gửi có kỳ hạn trả lãi sau định kỳ, Tiền gửi có kỳ hạn trả lãi trước toàn bộ, tiền gửi có kỳ hạn lãi suất gia tăng theo thời gian và tiền gửi đầu tư tự động (Nguyễn Thanh Toàn, 2016). +Tiền gửi tổ chức tín dụng khác Tiền gửi kho bạc nhà nước Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội. * Vốn đi vay-Vốn vay của tổ chức tín dụng khác -Vốn vay của ngân hàng trung ương *Vốn khác: các khoản chờ thanh toán: lệnh đến chưa xử lý như: khách hàng chưa đến nhận, lệnh sai sót trong thanh toán bù trừ, các khoản tạm treo.
Theo thời hạn huy động * Vốn ngắn hạn Các khoản huy động dưới 12 tháng được gọi là các khoản huy động vốn ngắn hạn. Hiện nay, nhiều ngân hàng chia nhỏ các kỳ hạn như; 2 tuần, 1 tháng, 2 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tháng, 3 tháng, 5 tháng, 6 tháng, 7 tháng, 9 tháng, 12 tháng. Đối với khoản tiền gửi này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường cao. Theo văn bản số 1069/NHNo – KHNV quy định về việc: “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND” ngày 6 tháng 12 năm 2018 của Phó Tổng giám đốc NHNo Việt Nam về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng là 0,6%, từ 12 tháng đến dưới 24 tháng là 0,2% trên tổng số dư tiền gửi dự trữ phải bắt buộc.
Đây là nguồn tiền gửi thường được khách hàng ưa chuộng nên chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn huy động (Phòng kế toán ngân quỹ Agribank Nghệ An, 2018). • Vốn trung và dài hạn Do ngân hàng chủ yếu là cho vay dài hạn nên để nâng cao khả năng thanh khoản cũng như hạn chế rủi ro lãi suất thì cần vốn trung và dài hạn. Hiện nay, các nguồn tiền trung hạn (từ 12 tháng đến dưới 24 tháng) với các kỳ hạn: 12 tháng, 13 tháng, 24 tháng và kỳ hạn 36 tháng. Đối với các kỳ hạn này ưu điểm là ổn định về nguồn vốn nhưng dễ rủi ro lãi suất nên thường được cân nhắc kỹ trong việc huy động.
Theo Quyết định của thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/01/2008 thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng là 5% trên tổng số dư tiền gửi. Đây là nguồn tiền có chi phí cao nên chiếm tỷ trọng thấp hơn so với nguồn ngắn hạn trong tổng số nguồn vốn huy động và thường được cho vay, đầu tư vào các dự án khả thi cao (Nguyễn Thanh Toàn, 2016). Theo đơn vị tiền tệ huy động * Huy động bằng nội tệ Do quá trình tích lũy và nhu cầu tiêu dùng, thanh toán trong nước nên khách hàng thường gửi tiền bằng đồng nội tệ. Do đó, nguồn vốn này thường chiếm phần lớn trong nguồn vốn huy động và có lãi suất cao hơn.
*Huy động bằng ngoại tệ Từ nhu cầu thanh toán trong xuất nhập khẩu hàng hóa với yêu cầu đầu tư, cất trữ bằng ngoại tệ trong ngân hàng. Do sự biến động về tỷ giá hiện nay tạm thời lãi suất huy động bằng ngoại tệ tạm thời bằng 0 (không). Theo đối tượng huy động Theo cách phân loại này, nguồn vốn chia thành: * Tiền gửi dân cư 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Tiền gửi các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng,. Vốn huy động của ngân hàng thương mại dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) và bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại a. Vốn huy động tiền gửi Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các ngân hàng thương mại bao gồm tiền gửi các tổ chức kinh tế, tiền gửi dân cư và tiền gửi của tổ chức tín dụng khác * Tiền gửi các tổ chức kinh tế - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi khách hàng ký gửi vào ngân hàng với thời gian ngắn, họ có thể rút ra bất cứ lúc nào thông qua các công cụ thanh toán của ngân hàng. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển, tiền tệ ổn định, yếu tố cơ bản thu hút loại tiền này không phải là lãi suất mà là khả năng đáp ứng các yêu cầu thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác và thuận tiện cho khách hàng. Tiền gửi không kỳ hạn thường xuyên biến động nhưng ngân hàng vẫn có thể sử dụng một phần nguồn vốn này vào hoạt động kinh doanh của mình do đó có sự không khớp nhau giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản thanh toán của một doanh nghiệp hay giữa các tài khoản (Nguyễn Xuân Đường, 2016).
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là những khoản tiền được ký gửi vào ngân hàng theo kỳ hạn nhất định. Mục đích chính của khoản tiền gửi này là sinh lời nên nó rất nhạy cảm với lãi suất. Lãi suất được xác định dựa vào kỳ hạn, tình hình cung cung cầu vốn tại thời điểm huy động. Thông thường việc rút vốn trước hạn gửi danh nghĩa và kỳ hạn thực tế không mấy khi trùng khớp nên tạo ra nguồn vốn tương đối ổn định để ngân hàng có thể cho vay.
Các ngân hàng áp dụng nhiều kỳ hạn với mức lãi suất khác nhau để đa dạng hóa loại tiền gửi này và thu hút khách hàng (Nguyễn Xuân Đường, 2016). * Tiền gửi dân cư - Huy động tiền gửi tiết kiệm: Các tầng lớp dân cư đều có những khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, gửi vào các ngân hàng nhằm mục tiêu đảm 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bảo an toàn và sinh lời. Để có thể huy động được nhiều nguồn tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng cần đa dạng hóa các hình thức huy động, đưa ra lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và mở rộng mạng lưới huy động. hiện nay các ngân hàng đang đa dạng các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm, như: + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác định, người gửi có thể rút vốn vào bất kỳ thời điểm nào.
Lãi suất ngân hàng áp dụng cho loại tiền gửi này thường thấp hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Do tính ổn định thấp nên các ngân hàng chỉ sử dụng nguồn tiền này ở một tỷ lệ nhất định, tùy thuộc vào dự định của ngân hàng về tính ổn định của lượng tiền huy động được (Nguyễn Xuân Đường, 2016). + Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi mà trong đó người gửi tiền và ngân hàng đã có sự thỏa thuận về số lượng, kỳ hạn, lãi suất cụ thể. Khách hàng khi sử dụng loại hình này chỉ có thể rút gốc và lãi khi tới hạn.
tuy nhiên để tạo tính hấp dẫn, đồng thời đảm bảo quyền lợi của khách hàng và tăng tính cạnh tranh, các ngân hàng cho phép khách hàng có thể rút trước hạn và hưởng lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn (Nguyễn Xuân Đường, 2016). Do tính chất xác định về kỳ hạn nên tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là một nguồn vốn có khả năng ổn định cao, ngân hàng có thể chủ động cho vay với kỳ hạn tương ứng hoặc chuyển hoán kỳ hạn một phần. Chi phí trả lãi với nguồn tiền gửi này cũng cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi cá nhân, tuy nhiên chi phí duy trì và quản lý tài khoản nói chung thấp (Nguyễn Xuân Đường, 2016).