Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Công ty cổ phần 1.1 Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần Khái niệm: công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác (trừ trƣờng hợp cổ phần ƣu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập có qui định riêng). Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân.
Số lƣợng cổ đông tối thiểu của công ty là 3 và không hạn chế số lƣợng tối đa [7].2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần Công ty cổ phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc (Giám đốc). Với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông thì có thêm Ban kiểm soát [7]. Đại hội đồng cổ đông: bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông có những quyền chính sau: + Quyền quyết định loại và số cổ phần đƣợc quyền chào bán của từng loại.
Quyết định mức cổ tức hàng năm. + Quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát. 4 + Quyền quyết định tổ chức lại và giải thể công ty cổ phần. + Quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty cổ phần.
+ Quyền thông qua báo cáo tài chính hàng năm. + Quyền quyết định mua lại hơn 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông). Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ chính sau [7]: + Quyết định chiến lƣợc phát triển của công ty.
+ Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần đƣợc quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác. + Quyết định phƣơng án đầu tƣ. + Quyết định giải pháp phát triển thị trƣờng; thông qua hợp đồng mua bán, vay, cho vay và các hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản đƣợc ghi trong sổ kế toán của công ty. + Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty.
+ Quyết định cơ cấu tổ chức, qui chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác. + Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị gồm không quá 11 thành viên, Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị trong số các thành viên của mình. Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Tổng giám đốc (Giám đốc) theo điều lệ công ty.
Tổng giám đốc (Giám đốc) là ngƣời điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trƣớc Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ đƣợc giao [7].3 Khái niệm cổ phần, cổ phiếu, cổ tức a. Cổ phần: công ty cổ phần có cổ phần phổ thông và có thể có cổ phần ƣu đãi. Ngƣời sở hữu cổ phần gọi là cổ đông. Công ty cổ phần có thể có các loại cổ phần ƣu đãi sau [7]: + Cổ phần ƣu đãi biểu quyết + Cổ phần ƣu đãi cổ tức + Cổ phần ƣu đãi hoàn lại + Cổ phần ƣu đãi khác theo điều lệ công ty Chỉ có cổ đông sáng lập mới đƣợc quyền nắm giữ cổ phần ƣu đãi biểu quyết.
Cổ phần ƣu đãi biểu quyết này chỉ có hiệu lực trong vòng 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau thời hạn đó, cổ phần ƣu đãi biểu quyết chuyển thành cổ phần phổ thông. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên [7]. Cổ tức: công ty cổ phần trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi, hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo qui định của pháp luật.
Mức cổ tức trả đối với từng cổ phần do Hội đồng quản trị xác định [7].2 Phƣơng thức huy động vốn của công ty cổ phần Vốn là sự biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản đƣợc sử dụng để đầu tƣ vào quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Vốn là điều kiện không thể thiếu đƣợc để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra lợi nhuận, làm tăng thêm giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp.1 Huy động vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần 6 a. Vốn góp ban đầu: khi công ty cổ phần đƣợc thành lập thì chủ công ty phải có một số vốn ban đầu do thành viên sáng lập góp. Vốn ban đầu thƣờng đƣợc dùng để xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị ban đầu, trang trải các chi phí cho hoạt động thành lập công ty.
Các thành viên sáng lập cùng ký biên bản góp vốn để làm cơ sở thành lập công ty cổ phần. Trên cơ sở biên bản góp vốn, các thành viên sáng lập lập hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm: đơn đăng ký kinh doanh (có nêu rõ số cổ phần mà cổ đông sáng lập đăng ký mua), điều lệ công ty (có nêu rõ số cổ phần mà cổ đông sáng lập cam kết mua), danh sách cổ đông sáng lập (có nêu rõ số lƣợng cổ phần, loại cổ phần, loại tài sản, số lƣợng tài sản) [3,5,6]. Theo điều 58, Luật doanh nghiệp, trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông đƣợc quyền chào bán; cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể chuyển nhƣợng cho ngƣời không phải là cổ đông nếu đƣợc sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, theo thời gian, vốn ban đầu sẽ chiếm tỷ trọng rất nhỏ bé trong tổng số vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần.
Đó chính là nguyên tắc: tƣ bản ban đầu chỉ là giọt nƣớc trong dòng sông tích luỹ [5]. Vốn từ lợi nhuận không chia: trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu làm ăn có lãi thì công ty có thể sử dụng một phần lợi nhuận để tái đầu tƣ, mở rộng sản xuất kinh doanh. Nguồn tài chính này rất quan trọng vì nó làm giảm chi phí so với nguồn vốn vay ngân hàng thƣơng mại (NHTM), giảm bớt sự phụ thuộc về vốn vào các yéu tố bên ngoài. Tuy nhiên, việc để lại lợi nhuận không chia cổ tức bằng tiền mặt mà sử dụng để tái đầu tƣ cũng làm giảm tính hấp dẫn về măt thị giá của cổ phiếu trong ngắn hạn [5].
Phát hành cổ phiếu mới: đây là loại chứng khoán quan trọng nhất đƣợc trao đổi, mua bán trên thị trƣờng chứng khoán. Lƣợng cổ phiếu tối đa mà công ty cổ phần đƣợc quyền phát hành gọi là vốn cổ phiếu đƣợc cấp phép. Công ty cổ phần chỉ có thể phát hành cổ phiếu mới trong giới hạn vốn cổ phiếu đƣợc cấp phép đã nêu. Phát hành cổ phiếu ƣu đãi: cổ phiếu ƣu đãi thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu đƣợc phát hành [1].2 Huy động vốn vay của công ty cổ phần Vốn tín dụng ngân hàng Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ đối với công ty cổ phần mà còn với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Trong hoạt động của mình, công ty cổ phần luôn phải sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng phục vụ nhu cầu tài chính thƣờng xuyên và cho các dự án đầu tƣ mở rộng sản xuất kinh doanh [2]. Vốn vay ngân hàng có thể là dài hạn (thƣờng từ 3 năm trở lên), trung hạn (từ 1 đến 3 năm), hoặc ngắn hạn (dƣới 1 năm). Vốn vay có thể là vay nội tệ, vay ngoại tệ,.và thông thƣờng nguồn vốn vay này thƣờng đi kèm với điều kiện tín dụng và qui trình cho vay chặt chẽ từ phía các NHTM đƣa ra. Điều kiện tín dụng: công ty cổ phần muốn vay đƣợc của NHTM phải đáp ứng đƣợc những yêu cầu an toàn tín dụng của ngân hàng.
Thông thƣờng công ty cổ phần phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu. Ngân hàng sẽ tiến hành phân tích tình hình tài chính của CTCP đi vay, thẩm định tính khả thi của phƣơng án sử dụng vốn vay. Từ đó, ngân hàng mới đƣa ra quyết định cho vay vốn. Điều kiện đảm bảo tiền vay: khi công ty cổ phần có nhu cầu vay vốn ngân hàng, ngân hàng thƣờng yêu cầu công ty cổ phần phải có các đảm bảo tiền vay là thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
8 Sự kiểm soát của ngân hàng: công ty cổ phần chịu sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay ngân hàng. Thông qua sự kiểm soát đó, ngân hàng đảm bảo tiền của mình sử dụng đúng mục đích, sử dụng có hiệu quả. Trong một số trƣờng hợp, công ty cổ phần có thể mất đi quyền tự chủ trong kinh doanh của mình, ngân hàng có thể tham gia quá sâu vào việc ra các quyết định trong hoạt động của công ty. Vốn từ tín dụng thương mại Tín dụng thƣơng mại hình thành một cách tự nhiên trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần, nó tồn tại dƣới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm, mua bán trả góp.
Đối với công ty cổ phần, nguồn vốn tín dụng thƣơng mại là một phƣơng thức huy động rẻ tiền, tiện dụng và rất linh hoạt trong kinh doanh. Tín dụng thƣơng mại góp phần củng cố thêm quan hệ giữa các bạn hàng, ít phải chịu sự kiểm soát. Tuy nhiên, tín dụng thƣơng mại lại tiềm ẩn rất nhiều yếu tố rủi ro, có thể gây vỡ nợ theo dây chuyền [2].