Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế (định hướng Tài chính - Bảo hiểm). Nghiên cứu giải quyết bài toán quản lý nhà nước đối với một lĩnh vực tài chính đặc thù trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo hiểm phi nhân thọ giữ vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để tài trợ cho sản xuất kinh doanh, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro tài chính cho các tổ chức, cá nhân, góp phần ổn định đời sống kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm có lịch sử gần 55 năm. Dù thị trường liên tục mở rộng nhưng quy mô vẫn còn nhỏ so với tiềm năng, đối tượng và phạm vi bảo hiểm còn hạn chế, loại hình sản phẩm đơn giản và hiệu quả kinh doanh chưa cao.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ mang tính chất đặc thù xuất phát từ bốn lý do chính:

  • Chu trình kinh doanh đảo ngược: Doanh nghiệp bảo hiểm thu phí trước và thực hiện nghĩa vụ bồi thường sau khi rủi ro xảy ra ("bán lời hứa, mua niềm tin"). Nếu thiếu sự can thiệp và kiểm soát của Nhà nước, khách hàng có thể giao kết hợp đồng với các doanh nghiệp không đủ năng lực tài chính, gây tổn hại quyền lợi người tham gia và mất ổn định hệ thống.
  • Kỹ thuật định phí bảo hiểm và trích lập dự phòng nghiệp vụ: Các chỉ tiêu này chủ yếu dựa trên xác suất thống kê các rủi ro, tổn thất trong quá khứ nên mang tính ước lượng. Do đó, Nhà nước cần ban hành các chuẩn mực kỹ thuật bắt buộc để bảo đảm khả năng chi trả các cam kết tài chính.
  • Hoạt động đầu tư từ nguồn phí tạm thời nhàn rỗi: Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp hình thành chủ yếu từ phí bảo hiểm của khách hàng để chuẩn bị cho việc bồi thường trong tương lai. Sự vắng mặt của các quy định quản lý an toàn đầu tư có thể dẫn đến việc phân bổ vốn vào các tài sản rủi ro cao, đe dọa khả năng thanh toán.
  • Hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh: Xuất hiện tình trạng hạ phí bảo hiểm, nới lỏng điều kiện bồi thường hoặc chi trả hoa hồng đại lý vượt khung quy định nhằm chiếm lĩnh doanh số, gây suy giảm chất lượng dịch vụ và méo mó thị trường.

Từ những vấn đề trên, luận án tập trung giải quyết khoảng trống: Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ một cách toàn diện từ xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy thực thi đến thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm, khắc phục tình trạng các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận đơn lẻ từ góc độ vi mô của doanh nghiệp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài để chỉ rõ các giới hạn và khoảng trống nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, nội dung quản lý nhà nước, các yếu tố ảnh hưởng và hệ thống tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này.
  3. Nhận diện các bất cập, vướng mắc trong sự phát triển của thị trường và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam theo các nội dung quản lý và tiêu chí đánh giá (tính hiệu lực, hiệu quả, phù hợp, bền vững), chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  5. Xác định mục tiêu, quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ; các nhân tố ảnh hưởng và hệ thống tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai mảng hoạt động cốt lõi là kinh doanh bảo hiểm gốc và hoạt động đầu tư tài chính; nghiên cứu các hoạt động quản lý diễn ra trong quá trình vận hành của doanh nghiệp; chủ thể quản lý trực tiếp là Bộ Tài chính (cụ thể là Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm); đối tượng quản lý là các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).
  • Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh và quản lý nhà nước giai đoạn 2010 - 2017; xây dựng định hướng và giải pháp áp dụng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề:

1. Các nghiên cứu về doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

  • Đoàn Minh Phụng và cộng sự (2015) trong đề tài "Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm tốp đầu Việt Nam" đã đánh giá hoạt động của 5 doanh nghiệp lớn (Bảo Việt, Bảo Minh, PVI, PTI, Pjico) giai đoạn 2012 - 2014 theo 7 nhóm nghiệp vụ. Tác giả kết luận: kết quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng, tồn tại hiện tượng cạnh tranh chạy theo doanh thu và danh mục đầu tư còn đơn điệu, hiệu quả thấp; từ đó đề xuất 6 nhóm định hướng nâng cao hiệu quả vi mô.
  • Trịnh Chi Mai (2013) trong luận án tiến sĩ "Hiệu quả hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam" đã sử dụng mô hình kinh tế lượng phân tích dữ liệu giai đoạn 2007 - 2010. Tác giả đề xuất các giải pháp xác định vốn chủ sở hữu tối thiểu, liên kết các bộ phận định phí - đầu tư - quản trị rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
  • Nguyễn Thị Thu Hà (2016) trong luận án tiến sĩ "Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam" tiếp cận hệ thống kiểm soát nội bộ theo 5 thành phần chuẩn mực COSO, đề xuất khung quản trị rủi ro "ba tầng phòng thủ" cùng việc ứng dụng các công cụ kỹ thuật như tự đánh giá rủi ro (KCSA), chỉ số rủi ro chính (KRI) và giá trị rủi ro (VaR).
  • Wen-Yen Hsu và Pongpitch Petchsakulwong (2010) với bài báo "The Impact of Corporate Governance on the Efficiency Performance of the Thai Non-Life Insurance Industry" trên Tạp chí Geneva về Rủi ro và Bảo hiểm đã dùng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) và hồi quy trên phần mềm Stata đối với các doanh nghiệp Thái Lan (2000 - 2007), kiểm định 6 giả thuyết (H1 đến H6) về mối quan hệ giữa cấu trúc hội đồng quản trị, ban kiểm toán với hiệu quả hoạt động kỹ thuật và chi phí.

2. Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và thị trường bảo hiểm

  • Hoàng Trần Hậu và Nguyễn Tiến Hùng (2013) trong bài viết "Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam" phân tích các nội dung giám sát khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ và đầu tư, chỉ ra thực trạng một số doanh nghiệp sử dụng nguồn dự phòng nghiệp vụ để đầu tư vượt trần cho phép hoặc chưa hạch toán rõ ràng.
  • Hoàng Trần Hậu và Hoàng Mạnh Cừ (2011) với đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam" đã làm rõ các nguyên tắc, mô hình và nội dung đo lường rủi ro trong quản lý, giám sát thị trường.
  • Phạm Khắc Dũng (2007) trong luận án tiến sĩ tại Đại học East Anglia (Vương quốc Anh) "Deregulation and productivity of the Vietnamese insurance industry" dựa trên lý thuyết quyền sở hữu và lý thuyết quản lý, ứng dụng mô hình DEA (chỉ số Malmquist) và phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) trên số liệu 1998 - 2004. Nghiên cứu chỉ ra mức hiệu quả kỹ thuật bình quân của khối phi nhân thọ đạt 64% - 80% và khối nhân thọ đạt 40% - 60%.
  • Dennis Lebar (2012) trên Information Week Insurance & Technology phân tích các quy tắc quản lý danh mục đầu tư của Hiệp hội Quốc gia các Ủy viên Bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC), nhấn mạnh việc kiểm soát chất lượng danh mục và phân tích rủi ro sau khủng hoảng tài chính năm 2008.
  • Mladenka Balaban trong nghiên cứu "Role of insurance company as institucional investor" tại Đại học Banja Luka phân tích vai trò nhà đầu tư tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm, thực trạng thị trường Serbia và các quy định thận trọng theo chỉ thị Solvency II của Liên minh Châu Âu (EU) tại Điều 72 và Điều 132 (liên quan đến yêu cầu vốn khả năng thanh toán SCR và vốn tối thiểu MCR).
  • Bài báo trên Báo Đầu tư (10/10/2012) dẫn ý kiến của ông Ngô Việt Trung (Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm) và ông Phùng Đắc Lộc (Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam) về các bất cập trong văn bản pháp luật và khung hướng dẫn đầu tư của Thông tư 125.

3. Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

  • Trịnh Thị Xuân Dung (2012) trong luận án "Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam" xây dựng hệ thống 20 chỉ tiêu đánh giá thị trường giai đoạn 2006 - 2010, chỉ ra nguyên nhân thua lỗ của các doanh nghiệp bắt nguồn từ chi phí quản lý duy trì ở mức cao.
  • Trịnh Hữu Hạnh (2012) trong luận án "Phương pháp đánh giá năng lực tài chính của các DNBH phi nhân thọ tại Việt Nam hiện nay" khảo sát 10 doanh nghiệp (trong tổng số 28 doanh nghiệp năm 2009), ghi nhận 2 đơn vị (Viễn Đông và Pjico) có nguy cơ suy giảm biên khả năng thanh toán dưới mức tối thiểu, đồng thời chỉ ra tỷ lệ nợ phí bảo hiểm trên vốn chủ sở hữu ở mức cao.
  • Nguyễn Thanh Nga (2015) với luận án "Giám sát thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam" phân tích hoạt động giám sát giai đoạn 2008 - 2013 và đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và quy trình thanh tra, giám sát.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu đứng trên giác độ nội bộ doanh nghiệp để tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoặc chỉ đánh giá một khía cạnh riêng lẻ (như an toàn tài chính hoặc kiểm soát nội bộ), sử dụng dữ liệu trước năm 2013. Luận án lựa chọn giải quyết các khoảng trống:

  • Tiếp cận quản lý nhà nước theo chu trình chức năng hoàn chỉnh: từ xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy thực thi đến thanh tra, giám sát và xử phạt vi phạm.
  • Thiết lập hệ thống 24 tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra của quản lý nhà nước đối với riêng mảng bảo hiểm phi nhân thọ.
  • Sử dụng mô hình thực nghiệm phân tích khoảng cách Tầm quan trọng - Mức độ thực hiện (IPA) kết hợp Kano để định vị các điểm cần cải cách ưu tiên.
  • Cập nhật dữ liệu thực trạng đến năm 2017 và xác lập khung giải pháp định hướng đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án kế thừa các quan niệm học thuật của David Bland (2004), Nguyễn Văn Định (2012) và quy định tại Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 để đưa ra định nghĩa: Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro, tổn thất về tài chính liên quan đến tài sản, trách nhiệm dân sự và các đối tượng khác, độc lập với tuổi thọ con người; hợp đồng thường có thời hạn ngắn (1 năm) với phạm vi bảo hiểm rộng và được quản lý theo kỹ thuật phân chia.

Hệ thống tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước được xây dựng theo mô hình kết quả đầu ra của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), kế thừa nghiên cứu của Đào Anh Tuấn (2012) và Nguyễn Anh Tú (2015), gồm 4 tiêu chí với 24 yếu tố thành phần:

  • Tính hiệu lực (7 yếu tố): Khả năng tác động của cơ quan quản lý, mức độ đạt mục tiêu đề ra, tính kịp thời của chính sách, mức độ chấp hành của doanh nghiệp, quy trình thanh tra giám sát rõ ràng và tính răn đe của chế tài xử lý vi phạm.
  • Tính hiệu quả (6 yếu tố): Sự phản ứng kịp thời trước các sự vụ bất thường, mức độ huy động vốn đầu tư trở lại nền kinh tế, tính tương xứng giữa chi phí quản lý và kết quả, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực quản lý, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và người tham gia, độ lan tỏa sản phẩm.
  • Tính phù hợp (5 yếu tố): Sự tương thích với bối cảnh kinh tế - xã hội, tính khả thi của chính sách, mức độ can thiệp hợp lý của Nhà nước, hiệu quả của công cụ kỹ thuật và công nghệ quản lý, mức độ tương thích với thông lệ quốc tế (chuẩn mực IAIS).
  • Tính bền vững (6 yếu tố): Tính ổn định lâu dài của định hướng chính sách, độ thông thoáng pháp lý hỗ trợ mở rộng kinh doanh, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, năng lực dự báo thị trường và mức độ đóng góp tạo việc làm cho nền kinh tế.

Hệ thống nhân tố ảnh hưởng được phân loại thành ba nhóm:

  • Nhóm chủ thể quản lý: Quan điểm đường lối lãnh đạo, phương thức quản lý (hành chính, kinh tế, giáo dục), mô hình tổ chức bộ máy, năng lực đạo đức của cán bộ quản lý và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý.
  • Nhóm đối tượng quản lý: Ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, năng lực điều hành và tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ kinh doanh, khả năng ứng dụng công nghệ trong thu thập và xử lý thông tin.
  • Nhóm môi trường quản lý: Cơ chế chính sách pháp luật chung, môi trường kinh tế vĩ mô (tăng trưởng, lạm phát, lãi suất, tỷ giá), môi trường đầu tư tài chính, mức độ hội nhập kinh tế quốc tế, áp lực cạnh tranh ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

Phương pháp Quy mô mẫu và kỹ thuật thu thập Kỹ thuật phân tích / Công cụ Mục đích thực hiện
Định tính Phỏng vấn sâu mẫu có chủ đích $n = 10$ (3 cán bộ quản lý Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm, 1 lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, 3 lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 3 chuyên gia viện/trường đại học). Ghi âm, gỡ băng toàn văn bản, gửi đối tượng phỏng vấn xác thực thông tin. Khám phá sâu thực tiễn quản lý, hoàn thiện nội dung thang đo và bảng hỏi khảo sát.
Định lượng sơ bộ Mẫu thuận tiện $n = 30$ tại Hà Nội (thực hiện tháng 2/2018). Kiểm tra độ rõ ràng của bảng hỏi, thử nghiệm độ tin cậy thang đo qua phần mềm SPSS. Điều chỉnh câu từ, sàng lọc biến quan sát để thiết kế bảng hỏi khảo sát chính thức.
Định lượng chính thức Phát phiếu khảo sát $n = 250$ (15 cán bộ cơ quan quản lý, 225 cán bộ thuộc 20 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 10 nhà nghiên cứu). Thu về 225 phiếu hợp lệ sau khi loại 25 phiếu lỗi. Tuân thủ nguyên tắc kích thước mẫu tối thiểu: $N \ge n \times 5 + 50$. Thống kê mô tả, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, chạy mô hình IPA (Importance - Performance Analysis) trên phần mềm SPSS 20.0. Đo lường khoảng cách I-P gaps của 24 yếu tố đánh giá, định vị các yếu tố vào 4 góc phần tư ma trận IPA để làm căn cứ đề xuất giải pháp.

Mô hình phân tích IPA (Martilla & James, 1977) phân loại 24 yếu tố quản lý vào 4 vùng chiến lược dựa trên giá trị trung bình của Mức độ quan trọng (trục Y) và Mức độ thực hiện (trục X):

  • Phần tư thứ nhất (Chiến lược C - Concentrate here): Tầm quan trọng cao, mức độ thực hiện thấp $\rightarrow$ Tập trung cải thiện ngay.
  • Phần tư thứ hai (Chiến lược K - Keep up good work): Tầm quan trọng cao, mức độ thực hiện tốt $\rightarrow$ Tiếp tục duy trì phát huy.
  • Phần tư thứ ba (Chiến lược L - Low priority): Tầm quan trọng thấp, mức độ thực hiện thấp $\rightarrow$ Hạn chế phân bổ nguồn lực.
  • Phần tư thứ tư (Chiến lược P - Possible overkill): Tầm quan trọng thấp, mức độ thực hiện cao $\rightarrow$ Không nên đầu tư nguồn lực quá mức.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam và trên thế giới. Tác giả phân tích các giới hạn của nghiên cứu trước (thiếu tính đồng bộ về chức năng quản lý, dữ liệu cũ trước năm 2013), từ đó xác lập 6 khoảng trống học thuật. Chương này cũng trình bày chi tiết sơ đồ quy trình nghiên cứu gồm 5 bước logic: xác định mục tiêu $\rightarrow$ xây dựng khung lý thuyết $\rightarrow$ nghiên cứu định tính ($n=10$) $\rightarrow$ nghiên cứu định lượng sơ bộ ($n=30$) và chính thức ($n=225$) $\rightarrow$ phân tích dữ liệu SPSS/IPA $\rightarrow$ đề xuất hàm ý chính sách.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế - kỹ thuật của bảo hiểm phi nhân thọ, các đặc trưng về kỹ thuật phân chia và tính chất hợp đồng ngắn hạn. Tác giả phân tích các nội dung quản lý nhà nước cốt lõi:

  • Cấp phép hoạt động và thẩm định điều kiện tài chính ban đầu.
  • Quản trị nghiệp vụ bảo hiểm gốc, kiểm soát quy tắc, điều khoản, biểu phí và trích lập dự phòng nghiệp vụ.
  • Quy định và kiểm soát danh mục đầu tư an toàn từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi.
  • Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (Bộ Tài chính và Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm) cùng cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Tổ chức thanh tra tại chỗ, giám sát từ xa dựa trên hệ thống báo cáo định kỳ và xử lý vi phạm hành chính, hình sự.
  • Các hoạt động hợp tác quốc tế (theo nguyên tắc IAIS), dự báo thị trường và quản lý văn phòng đại diện.

Chương này xây dựng hoàn chỉnh khung 4 tiêu chí (24 biến quan sát) và phân tích tác động của 3 nhóm nhân tố (chủ thể, đối tượng, môi trường). Đồng thời, tác giả tổng kết kinh nghiệm quốc tế về quản lý đầu tư theo chuẩn mực NAIC (Hoa Kỳ), khung an toàn vốn dựa trên rủi ro Solvency II (EU) và kinh nghiệm tổ chức kiểm soát nội bộ tại Trung Quốc, Nhật Bản.

Chương 3: Thực trạng kinh doanh và quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng phát triển thị trường giai đoạn 2010 - 2017:

  • Thị trường tăng trưởng về doanh thu phí bảo hiểm gốc nhưng quy mô còn nhỏ; sản phẩm tập trung vào các nhóm truyền thống; hiệu quả đầu tư tài chính chưa cao do tỷ trọng lớn gửi tại các ngân hàng thương mại và mua trái phiếu chính phủ, thiếu các công cụ sinh lời dài hạn; tỷ lệ nợ phí bảo hiểm còn ở mức cao.
  • Tồn tại tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp thông qua việc hạ phí bảo hiểm, mở rộng phạm vi bồi thường không có cơ sở kỹ thuật và chi trả hoa hồng đại lý vượt định mức.
  • Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước: Khung pháp lý (Luật Kinh doanh bảo hiểm, các Nghị định và Thông tư 125) từng bước hoàn thiện nhưng vẫn còn sự chồng chéo; bộ máy Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm đã thực hiện giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ nhưng nguồn nhân lực còn mỏng; việc xử lý vi phạm còn mang tính sự vụ, tính răn đe chưa đồng đều.
  • Kết quả khảo sát 225 đối tượng qua mô hình IPA chỉ ra khoảng cách giữa kỳ vọng và thực thi (I-P gaps), nhận diện các yếu tố quản lý nhà nước rơi vào góc phần tư "Tập trung phát triển" (như kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh, hiện đại hóa công nghệ giám sát, minh bạch hóa thông tin thị trường).

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam

Chương 4 xác lập quan điểm chuyển dịch quản lý nhà nước từ phương thức can thiệp hành chính, mệnh lệnh sang phương thức quản lý trên cơ sở rủi ro và cung ứng dịch vụ công, hướng tới mục tiêu phát triển thị trường đến năm 2030 an toàn, minh bạch và bền vững. Các nhóm giải pháp đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý: Sửa đổi các quy định về định phí, chuẩn hóa phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ; ban hành khung tỷ lệ đầu tư linh hoạt gắn với hệ số rủi ro của từng loại tài sản; siết chặt quy định về nợ phí và chế tài cạnh tranh không lành mạnh.
  • Kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân lực: Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giám sát viên Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm; phân định rõ chức năng giữa các đơn vị quản lý.
  • Đổi mới phương thức thanh tra, giám sát: Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung toàn thị trường; áp dụng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tài chính; từng bước nghiên cứu triển khai mô hình biên khả năng thanh toán theo rủi ro (tương thích Solvency II).
  • Tăng cường hợp tác liên ngành và quốc tế: Phối hợp giữa Bộ Tài chính với các bộ ngành liên quan, phát huy vai trò tự quản của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam trong việc giám sát đạo đức hành nghề và tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo hiểm trong xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dưới góc độ cung cấp dịch vụ công và quản trị rủi ro hệ thống.
  • Xây dựng hệ thống 24 yếu tố thuộc 4 tiêu chí đánh giá kết quả đầu ra của quản lý nhà nước (tính hiệu lực, hiệu quả, phù hợp, bền vững) phù hợp với đặc thù nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ.
  • Bổ sung bằng chứng phương pháp luận về việc ứng dụng kết hợp mô hình Kano và phân tích ma trận IPA trong việc đo lường chất lượng quản lý nhà nước đối với một ngành dịch vụ tài chính chuyên biệt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phác thảo bức tranh thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc và hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2017 với các dữ liệu thực nghiệm cụ thể.
  • Nhận diện các điểm nghẽn trong quản lý nhà nước tại Việt Nam: sự thiếu hụt công cụ giám sát định lượng từ xa theo chuẩn mực rủi ro, hiện tượng cạnh tranh hạ phí ngầm, tình trạng nợ phí bảo hiểm kéo dài và danh mục đầu tư chưa tối ưu.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có lộ trình áp dụng đến năm 2030 cho Bộ Tài chính và Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm nhằm lành mạnh hóa thị trường và bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Về nội dung: Luận án chỉ tập trung vào hai mảng kinh doanh cốt lõi là bảo hiểm gốc và đầu tư tài chính trong giai đoạn doanh nghiệp đang hoạt động bình thường, chưa đi sâu vào mảng kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm cũng như quy trình xử lý can thiệp khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc giải thể.
  • Về chủ thể quản lý: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ Tài chính và Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm, chưa đánh giá sâu vai trò phối hợp của các cơ quan quản lý vĩ mô khác (như Ngân hàng Nhà nước, cơ quan thuế, cơ quan quản lý cạnh tranh).
  • Về phương pháp thu thập mẫu: Việc chọn mẫu định lượng thực hiện theo phương pháp thuận tiện phi xác suất ($n=225$) do giới hạn trong việc tiếp cận danh bạ tổng thể toàn bộ nhân sự ngành bảo hiểm, điều này có thể tạo ra những giới hạn nhất định về tính đại diện khi tổng quát hóa kết quả.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát với phương pháp chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên phân tầng; nghiên cứu sâu cơ chế quản lý giám sát trên cơ sở rủi ro (Risk-Based Capital) và tác động của công nghệ số (Insurtech) đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm): Luận án cung cấp căn cứ thực nghiệm và hệ thống tiêu chí IPA để nhận diện các khâu quản lý cần ưu tiên nguồn lực cải thiện, hỗ trợ quá trình sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam: Tài liệu giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm bắt các yêu cầu an toàn tài chính, định hướng quản trị rủi ro đầu tư và nhận thức rõ các ranh giới pháp lý nhằm ngăn ngừa cạnh tranh không lành mạnh.
  • Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế, Tài chính, Bảo hiểm và Quản lý công trong việc tiếp cận phương pháp đánh giá chính sách tài chính bằng mô hình định lượng IPA.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao quản lý nhà nước đối với kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ lại có tính chất đặc thù hơn các ngành kinh doanh thông thường?
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ vận hành theo chu trình kinh doanh đảo ngược (thu phí trước, bồi thường sau), kỹ thuật định phí và trích lập dự phòng mang tính ước lượng theo xác suất tổn thất trong quá khứ, và nguồn vốn đầu tư tạm thời nhàn rỗi được hình thành từ tiền đóng phí của khách hàng. Nếu Nhà nước không can thiệp giám sát chặt chẽ, rủi ro mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ trực tiếp đe dọa quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và gây mất an toàn hệ thống tài chính.

2. Luận án sử dụng những tiêu chí nào để đo lường kết quả quản lý nhà nước đối với hoạt động này?
Luận án sử dụng khung đánh giá kết quả đầu ra gồm 4 tiêu chí lớn với 24 yếu tố thành phần: Tính hiệu lực (7 yếu tố), Tính hiệu quả (6 yếu tố), Tính phù hợp (5 yếu tố) và Tính bền vững (6 yếu tố).

3. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai với quy mô mẫu ra sao?
Nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng: phỏng vấn sâu 10 chuyên gia (3 cán bộ quản lý, 1 đại diện hiệp hội, 3 lãnh đạo doanh nghiệp, 3 nhà khoa học); khảo sát sơ bộ 30 mẫu tại Hà Nội (tháng 2/2018); khảo sát chính thức phát 250 phiếu, thu về 225 phiếu hợp lệ (gồm 15 cán bộ cơ quan quản lý, 225 cán bộ từ 20 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và 10 nhà nghiên cứu), xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 20.0 và mô hình IPA.

4. Ma trận phân tích Tầm quan trọng - Mức độ thực hiện (IPA) trong luận án mang lại ý nghĩa gì?
Mô hình IPA phân loại 24 yếu tố đánh giá vào 4 góc phần tư chiến lược: Tập trung phát triển (Concentrate here), Tiếp tục duy trì (Keep up good work), Hạn chế đầu tư (Low priority), và Không nên đầu tư quá mức (Possible overkill), giúp cơ quan quản lý xác định chính xác các điểm nghẽn cần ưu tiên cải thiện chính sách.

5. Luận án đã tham khảo những kinh nghiệm quốc tế nào về quản lý an toàn tài chính bảo hiểm?
Luận án phân tích mô hình giám sát quy tắc đầu tư của NAIC (Hoa Kỳ), khung chỉ thị an toàn vốn Solvency II của Liên minh Châu Âu (Điều 72, Điều 132 với yêu cầu vốn SCR, MCR), kinh nghiệm quản trị công ty tại Thái Lan và các bài học tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ từ Nhật Bản, Trung Quốc và Châu Âu.


Kết luận

Luận án đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua mô hình IPA trên tập dữ liệu khảo sát thực tế, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn trong công tác quản lý tài chính, nghiệp vụ và kiểm soát cạnh tranh giai đoạn 2010 - 2017. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực giám sát thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phát triển an toàn, minh bạch đến năm 2030.