Lời mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công. - Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dƣơng. - Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dƣơng. - Kết luận - Tài liệu tham khảo 8 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ Từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX , các nhà kiểm toán viên đã dần quan tâm đến KSNB khi họ nhận thức đƣợc rằng không cần thiết phải kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà họ chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra dựa vào hệ thống KSNB của đơn vị đƣợc kiểm toán.
Tuy nhiên vào thời điểm này, khái niệm KSNB chỉ đƣợc nhắc đến nhƣ là một công cụ bảo vệ tiền khỏi sự biển thủ của nhân viên. Một trong những công ty kiểm toán đầu tiên đƣợc thành lập là công ty Price Waterhouse. Vào thời kỳ này, chƣa có hệ thống chuẩn mực kiểm toán mà chỉ có một hƣớng dẫn duy nhất là Sổ tay kiểm toán của Dicksee công bố vào năm 1892. Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp.
Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó đƣa đến nhu cầu tăng cƣờng quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn. Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này. Năm 1936, trong một công bố, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants), đã định nghĩa KSNB “… là các biện pháp, cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”. Những năm sau đó, việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng đƣợc chú trọng với nhiều công trình nghiên cứu nhƣ: Năm 1949, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) đã công bố công trình nghiên cứu “KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”.
Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa KSNB là “…. Cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thực hiện liên quan đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của ngƣời quản lý”. Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP – 9 Stantement on Auditing Procedure) về “phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”. Trong đó, lần đầu tiên phân biệt KSNB về quản lý và KSNB về kế toán.
Năm 1962, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) tiếp tục ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 33 (SAP 33) nhằm làm rõ khái niệm về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán. Năm 1972, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) tiếp tục ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 54 (SAP 54) chủ yếu “Tìm hiểu và đánh giá KSNB”. Trong đó, tuyên bố thủ tục kiểm soát kế toán đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế tiếp cận tài sản và kiểm kê. Năm 1973, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants) ban hành chuẩn mực kiểm toán 1 (SAS - Statememt on Auditing Standard) duyệt xét lại SAP 54 và đƣa ra các định nghĩa về kiểm soát quản lý nghiệp vụ kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành KSNB.
Đặc biệt vào năm 1977, Khái niệm KSNB xuất hiện trong một văn bản Luật - Luật về phòng, chống hối lộ nƣớc ngoài. Trong đó, nhấn mạnh vai trò của KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp. Luật này ra đời xuất phát từ việc ngày có nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, đáng kể là vụ tai tiếng chính trị Watergate. Theo đó, Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đƣa ra bắt buộc đòi hỏi các công ty phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng.
Yêu cầu này gây ra làn sống phản đối, đòi hỏi phải có các tiêu chuẩn đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. Vì thế, Ủy ban COSO thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính đƣợc thành lập năm 1985 dƣới sự bảo trợ của 05 tổ chức nghề nghiệp: - Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Certfied Accountants); - Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA - American Accounting Association); - Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI - Financial Executies Institute); - Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Instiute of Management Accountants). 10 Đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo, là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đƣa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB, báo cáo COSO 1992 đƣa ra 5 bộ phận cấu thành của KSNB bao gồm: - Môi trƣờng kiểm soát; - Đánh giá rủi ro; - Hoạt động kiểm soát; - Thông tin và truyền thông; - Giám sát.
Sau báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB trong nhiều lĩnh vực đã lần lƣợt ra đời, nhƣ: Phát triển theo hướng công nghệ thông tin thì năm 1996, Hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin ban hành bản tiêu chuẩn “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và và các lĩnh vực liên quan” (COBIT - Control Objectives for Information and Related Technology) nhấn mạnh đến việc kiểm soát trong môi trƣờng tin học. Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể thì vào năm 1998, Báo cáo Basel của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đƣa ra công bố về khuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organisations). Phát triển theo hướng quản trị thì vào năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM - Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở là báo cáo COSO 1992. Cho đến năm 2004, ERM (Enterprise Risk Management Framework) chính thức đƣợc ban hành bổ sung thêm 3 yếu tố của kiểm soát nội bộ, theo đó ERM định nghĩa KSNB bao gồm 8 yếu tố: - Môi trƣờng nội bộ; - Thiết lập mục tiêu; - Nhận diện sự kiện; - Đánh giá rủi ro; - Đối phó rủi ro; - Hoạt động kiểm soát; 11 - Thông tin tuyên truyền; - Giám sát.
Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ thì vào năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “KSNB đối với báo cáo tài chính - Hƣớng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” (gọi tắt là COSO Guidance 2006). Hƣớng dẫn này vẫn dựa trên nền tảng của báo cáo COSO năm 1992 và giải thích về cách thức áp dụng kiểm soát nội bộ trong các công ty đại chúng quy mô nhỏ. Phát triển về giám sát hệ thống Kiểm soát nội bộ thì vào năm 2008, COSO cũng đã đƣa ra Dự thảo Hƣớng dẫn về giám sát hệ thống KSNB (Exposure Draft, COSO 2008) dựa trên khuôn mẫu COSO 1992 nhằm giúp các tổ chức giám sát chất lƣợng của hệ thống KSNB. Hƣớng dẫn này (COSO Guidance 2008) gồm 3 phần: Hƣớng dẫn; Ứng dụng; Thí dụ.
Cho đến năm 2009, phần 1 - Hƣớng dẫn đã chính thức đƣợc ban hành. Ở khu vực công, KSNB cũng rất đƣợc quan tâm với một số các nghiên cứu nhƣ: Hƣớng dẫn về KSNB của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Supreme Audit Institutions - INTOSAI) ban hành năm 1992, Chuẩn mực về KSNB trong chính quyền liên bang của Cơ quan Kiểm toán Nhà nƣớc Hoa Kỳ (Government Accountability Office - GAO) đƣợc ban hành năm 1999 nhằm đƣa ra các quan điểm và hƣớng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công. Năm 1992, bản Hƣớng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành tài liệu cập nhật đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB đã hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2013, mặc dù chƣa có văn bản hƣớng dẫn của INTOSAI nhƣng trong INTOSAI 2013 vẫn dựa trên nền tảng của INTOSAI 1992 và vận dụng 17 nguyên tắc công bố trong báo cáo COSO 2013.
Trong năm 2016, trong Đại hội XXII INTOSAI, tiêu chuẩn mới đã đƣợc thông qua và Quốc hội đã thông qua đổi mới quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn INTOSAI, đây là một dự án nhằm hoàn thiện khuôn khổ INTOSAI. Khung tuyên bố chuyên nghiệp của INTOSAI (IFPP) “INTOSAI Framework of Professional 12 Pronouncements (IFPP)”. Cấu trúc gồm 3 phần sau: - Nguyên tắc INTOSAI (INTOSAI - P); - Tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức kiểm toán tối cao (ISSAIs); và - Hƣớng dẫn INTOSAI (GUID). Các dự án sửa đổi sẽ đƣợc hoàn thành vào cuối năm 2019, và đƣợc dự kiến vào Đại hội XXIII INCOSAI phê duyệt khung mới.
Trong phạm vi đề tài, ngƣời viết nghiên cứu hệ thống INTOSAI tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch dựa trên Hƣớng dẫn về kiểm soát nội bộ của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI). Hƣớng dẫn về kiểm soát nội bộ của INTOSAI là tài liệu tích hợp các lý luận chung về INTOSAI của Báo cáo COSO. Nó ban hành đầu tiên vào năm 1992 (INTOSAI 1992) và cập nhật năm 2001, công bố năm 2004 (INTOSAI 2004). Sự hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công: Trong khu vực công, KSNB rất đƣợc quan tâm và chú trọng đặc biệt.
Ở một số quốc gia nhƣ Mỹ, Canada…đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho cơ quan hành chính sự nghiệp. Theo tìm hiểu của tác giả tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ra đời vào năm 1953 tại Havana, Cuba.