phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu trong ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận hệ thống kiểm soát nội bộ. Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Bình Dƣơng. 5 Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Sở Lao động – Thƣơng binh và Xã hội tỉnh Bình Dƣơng. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử phát triển của kiểm soát nội bộ * Giai đoạn sơ khai Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ cuộc cách mạng công nghiệp (cuối thế kỷ 19), với hình thức ban đầu là kiểm soát tiền.
Năm 1929, thuật ngữ KSNB đƣợc đề cập chính thức trong một Công bố của Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin). Theo công bố này, KSNB đƣợc định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ ( AICPA – American Institute of Certified Puplic Accountants) ban hành báo cáo có tựa đề “ Kiểm tra báo cáo tài chính bởi những kiểm toán viên”. Báo cáo này định nghĩa KSNB “…là các biện pháp và cách thức đƣợc chấp nhận và đƣợc thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng nhƣ kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”.
* Giai đoạn hình thành Vào năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB là “ KSNB, các bộ phận cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa KSNB là “….cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan đƣợc chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của ngƣời quản lý” Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB. 7 -Vào năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP:Committee ON Auditing Procedure ) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo thủ tục kiểm toán 29 (SAP- Statement Auditing Procedure) về “ phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập” - Đến năm 1962, CAP tiếp tục ban hành SAP 33 (1962) và đã làm rõ hơn về vấn đề này. Dựa trên khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý, CAP đã xây dựng chuẩn mực kiểm toán yêu cầu công ty kiểm toán nên giới hạn nghiên cứu KSNB về kế toán - Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 (1972) “ Tìm hiểu và đánh giá KSNB” trong đó đƣa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán (đảm bảo nghiệp vụ chỉ đƣợc thực hiện khi đã đƣợc phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê).
Các định nghĩa trên khẳng định sự quan tâm của nghề nghiệp kiểm toán đối với các bộ phận cấu thành KSNB và đó chính là đối tƣợng nghiên cứu của các chuẩn mực kiểm toán. Nhƣ vậy, trong suốt thời kỳ trên, khái niệm KSNB đã không ngừng đƣợc mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, trƣớc báo cáo COSO ( 1992) ra đời, KSNB mới dừng lại nhƣ là một phƣơng tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính. * Giai đoạn phát triển - Trƣớc tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ KSNB thay cho KSNB về kế toán.
Sau đó, AICPA cũng đã quyết định không sử dụng thuật ngữ kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý. -Đến năm 1988, nhiều chuẩn mực kiểm toán mới ra đời, trong đó có SAS 55, SAS 55 “ Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính” đƣa ra ba bộ phận của KSNB là môi trƣờng kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. -Sau một thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành Báo cáo năm 1992. Báo cáo COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đƣa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống.
Đây là hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho đến thời điểm hiện nay. 8 * Giai đoạn hiện đại - Báo cáo COSO 1992 tuy chƣa thật sự hoàn chỉnh nhƣng đã tạo lập đƣợc cơ sở lý thuyết cơ bản về KSNB. Nhờ đó mà đã có hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trên nhiều lĩnh vực khác nhau ra đời nhƣ: + Phát triển theo hƣớng công nghệ thông tin: Năm 1996, Bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực có liên quan” (CoBIT-Control Objectives for Information and Related Technology) do Hiệp hội về Kiểm soát và Kiểm toán hệ thống thông tin ( ISACA-Information System Audit and Control Association ) ban hành. COBIT nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trƣờng tin học, bao gồm các lĩnh vực: hoạch định và tổ chức, mua và triển khai, phân phối và hỗ trợ, giám sát.
+ Phát triển theo hƣớng kiểm toán độc lập: Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB. + Phát triển về phía quản trị: Năm 2001, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM-Enterprise Risk Management Framework), theo đó ERM đƣợc định nghĩa gồm 8 bộ phận cấu thành: Môi trƣờng nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. + Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ: Năm 2006, COSO nghiên cứu và ban hành hƣớng dẫn “ Kiểm soát nội bộ đối với báo cáo tài chính-Hƣớng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ” + Phát triển theo hƣớng kiểm toán nội bộ: Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ định nghĩa các mục tiêu của KSNB gồm: - Độ tin cậy và trung thực của thông tin. - Tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định.
- Bảo vệ tài sản - Sử dụng hiệu quả và kinh tế các nguồn lực. - Hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động và các chƣơng trình.2 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống những chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau: bảo vệ tài sản của đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý, bảo đảm hiệu quả của các hoạt động. KSNB là một chức năng thƣờng xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đề ra của đơn vị.3 Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống KSNB gắn liền với trách nhiệm và quyền hạn của mỗi bộ phận, mọi quy trình nghiệp vụ và mọi nhân viên trong đơn vị. Các cá nhân và các bộ phận đều tham gia vào hệ thống qua công việc KSNB và kiểm soát lẫn nhau, tuân thủ pháp luật, đảm bảo hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý.
Xét về mục tiêu, nói chung hệ thống KSNB gồm bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị, đảm bảo tính chính xác của thông tin kế toán, đảm bảo tuân thủ pháp luật, đảm bảo hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý.2 Những vấn đề cơ bản về khu vực công 1.1 Khái niệm về khu vực công Khu vực công đƣợc xem là một khái niệm quan trọng trong các học thuyết kinh tế - chính trị. Xét ở góc độ kinh tế thì khu vực công là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Nó bao gồm các bộ phận sản xuất và phân phối đƣợc tài trợ bởi các cơ quan nhà nƣớc. Xét theo nghĩa thì khu vực công bao gồm chính quyền trung ƣơng, chính quyền địa phƣơng, và các doanh nghiệp công hay còn gọi là các doanh nghiệp nhà nƣớc.
Có thể nói, khu vực công là tổng thể các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng,…thuộc sở hữu nhà nƣớc do nhà nƣớc đầu tƣ, cấp phát tài chính toàn bộ hay bộ phận quan trọng nhất, do nhà nƣớc trực tiếp quản lý, tổ chức nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất tinh thần, những dịch vụ công cộng phục vụ đời sống nhân dân và lợi ích toàn xã hội. Nền kinh tế thị trƣờng dù ở giai đoạn phát triển thấp hay cao, đều có những khuyết điểm nhất định của nó. Chỉ có nhà nƣớc thông qua khu vực công mới có thể 10 bù đắp, sửa chữa những khuyết tật của thị trƣờng hoặc thực thi những chính sách làm giảm nhẹ những tác động tiêu cực do thị trƣờng gây ra.2 Các bộ phận, thành phần thuộc khu vực công Khu vực công hợp thành bởi khu vực chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhà nƣớc 1.1 Khu vực Chính phủ Bao gồm các đơn vị Chính phủ và các thể chế phi lợi nhuận, phi thị trƣờng đƣợc kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ. Những đơn vị chính bao gồm tất cả các đơn vị trong hệ thống bộ máy Nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng mà thực hiện các chức năng của Chính phủ nhƣ là hoạt động cơ bản.
Chịu trách nhiệm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho cộng đồng dân cƣ trên cơ sở phi thị trƣờng; thực hiện các khoản thanh toán chuyển giao để tái phân phối thu nhập và của cải, đồng thời tài trợ cho các hoạt động của mình một cách trực tiếp và gián tiếp. Khu vực này gồm: Chính phủ trung ƣơng, chính quyền địa phƣơng và các quỹ bảo hiểm xã hội (gồm quỹ hƣu trí cho công nhân viên nhà nƣớc và quỹ bảo hiểm xã hội nói chung cho xã hội kể cả khu vực tƣ nhân nhƣ hƣu trí, tuổi già, thất nghiệp, y tế).2 Các doanh nghiệp nhà nƣớc Doanh nghiệp công là “Các đơn vị thể chế đủ tiêu chuẩn doanh nghiệp đƣợc chính quyền sở hữu và kiểm soát đƣợc gọi là doanh nghiệp”. Có hai loại chính: công ty công tài chính và công ty công phi tài chính.