Chương 1 TỎNG QUAN 1. Cơ sở khoa học 1. Đất đai và quản lý Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm Dat dai - Theo Chu Văn Thinh, (2000) “Dat đai là một tong thé vat chat ca sự kết hop giữa dia hình và không gian tự nhiên của thực thé vat chat đó”.
- Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thắng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyên, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; Theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người (Đặng Thái Sơn, 2002). - “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” (Luật Đất đai, 2003). Quản lý Nhà nước về đất đai Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007) “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyên lực nhà nước dé điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người đề duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”. Điều 158, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dung và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật”.
Từ khi Luật Đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài sản dân sự đặc biệt. Vì vậy, khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước.
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước về đất đai. Đó là các hoạt động trong việc theo dõi và quản lý tình hình sử dụng đất đai, phân bó đất đai vào các mục đích sử dụng đất theo chủ trương của Nhà nước, kiểm tra và giám sát quá trình SDĐ. Từ các hoạt động quản lý nhà nước đối với đất đai như trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về đất đai như sau: Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thâm quyên dé thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai “+ Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước.
Đất đai là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân - mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng, vấn đề này được quy định tại Điều 18 Hiến pháp 1992: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” và được cụ thé hơn tại Điều 4 Luật Dat đai 2013: “Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nha nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. % Đảm bảo sự kết hợp hai hòa về quyền lợi. Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền sở hữu đất đai bao gồm quyền chiếm hữu đất đai, quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai của chủ sở hữu đất đai.
quyền sử dụng đất đai là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất đai của chủ sở hữu đất đai hoặc chủ SDD khi được chủ sở hữu chuyên giao quyền SDD. Từ khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, quyền sở hữu dat đai ở nước ta thuộc về toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai thông qua việc giao đất, cho thê đất, công nhận quyền SDD và hưởng lợi từ việc thu các loại thuế liên quan đến đất dai, thu tiền sử dụng dat, lệ phí trước bạ. từ những chủ thé trực tiếp sử dụng đất dai.
Vì vậy, dé sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền SDĐ đối với các chủ thể trực tiếp sử dụng và quy định hành lang pháp lý cho phù hợp dé vừa đảm bảo lợi ich cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Van đề này được thé hiện ở Điều 5, 17, 20 Luật Dat đai năm 2013 “Nha nước trao quyền SDD cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất; công nhận quyền SDD đối với người đang sử dụng ổn định; quy định quyén và nghĩa vụ của người sử dụng đất”. s* Tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế. Thực chất, QLĐĐ cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên phải tuân theo nguyên tắc này.
Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng VIỆC: -_ Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dung dat, có tính khả thi cao. — Quản lý và giám sát việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có như vậy, QLNN về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển KTXH, đảm bảo sử dụng đất đai tiết kiệm nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra.
Nội dung quản lý Nhà nước về dat đai Luật Dat đai năm 2013 quy định 15 nội dung quan lý nhà nước đất dai: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản ly, sử dụng đất dai và tô chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi dat. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Thống kê, kiêm kê đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Phố biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động địch vụ về đất đai.
Trong 15 hoạt động QLNN về đất đai trên thì hoạt động DK, CG được xem là một nội dung quan trọng nhằm xác lập quyền SDĐ cho người dân làm cơ sở thực hiện tốt công tác QLNN về đất đai ở Việt Nam (Luật Dat đai, 2013). Đăng ký đất đai và hồ sơ địa chính 1. Khái niệm Đăng ký dat đai là một TTHC do co quan Nhà nước thực hiện đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất, bởi nó thực hiện đăng ký đối với đất đai - một loại tài san đặc biệt có giá trị và gắn bó mật thiết với mọi tô chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình sản xuất và đời sông. Theo Điều 95 Luật Đất đai 2013, ĐK là yêu cầu bắt buộc đối với người SDĐ và người được giao đất để quản lý bao gồm: đang SDĐ chưa đăng ký; mới được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; chuyên đổi mục dich SDD, chuyên quyền SDD hoặc thay đổi những nội dung chuyên quyền SDĐ đã đăng ký khác.
VPĐKĐĐ có chức năng nhiệm vụ t6 chức thực hiện DK, quản lý HSDC và thực hiện TTHC trong quản lý đất đai theo cơ chế một cửa. Điều 3 Luật đất đai 2013: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính”. Tóm lại, DK là một TTHC thiết lập HSDC đầy đủ và CG cho người SDD hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người SDĐ, làm cơ sở dé Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người SDD. Đăng ký đất đai gồm đăng ký lần đầu và đăng ký biến động bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử có giá trị pháp lý như nhau.
Đăng ký dat lần đầu: là việc thực hiện thủ tục lần đầu dé ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền SDĐ, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào HSĐC.