chương I của Luật Cán bộ, công chức Việt Nam (2008) quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” ” [51; 55]. Công chức là một thuật ngữ được sử dụng trong quản lý nhà nước, trong sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng tư do Chính phủ quy định. Theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước” [4; 134].
Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức: “Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ 6 quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng” [5; 36]. Tuy nhiên, chiếu theo các khái niệm và Nghị định trên thì có rất nhiều cán bộ trong các cơ quan hành chính Nhà nước sẽ không thuộc đối tượng là “công chức” mặc dù họ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Theo Nghị định 06/2010/NĐ-CP: Công chức được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong biên chế giữ một công vụ thường xuyên hoặc nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện; Trong các cơ quan, đơn vị quân đội nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp như chuyên viên vi tính, kế toán…); Trong các cơ quan, đơn vị công an nhân dân (mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp); Trong các cơ quan Đảng; Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước; Trong các bộ và cơ quan ngang bộ; Tòa án nhân dân các cấp (Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, phó chánh án các tòa chuyên trách, thẩm phán); Viện kiểm sát Nhân dân; tổ chức chính trị xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…); Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập … Như vậy, có thể hiểu: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [51; 16]. Khái niệm “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Nó được dùng để chỉ tất cả những người làm công hưởng lương từ nhà nước, kể từ những người đứng đầu một cơ quan như thủ trưởng, giám đốc… cho tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao công tạp vụ. 7 Vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ” được gọi chung cho tất cả những người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt rõ ràng. Đội ngũ này được hình thành từ nhiều con đường có thể do bầu cử, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp, có thể do tuyển dụng, bổ nhiệm…. Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác với các nước, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời, công cuộc cải cách hành chính ngày nay đặt ra nhu cầu chuyên biệt hóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan.
Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đã quy định cụ thể về đội ngũ cán bộ công chức các cấp. Khái niệm cán bộ công chức cấp huyện Tại Khoản 2, Điều 2 của Nghị định 114/2003/NĐ- CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 quy định công chức cấp huyện như sau: “2. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện (gọi chung là công chức cấp huyện). Theo Khoản 3, Điều 3, Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định công chức trong cơ quan Đảng cấp huyện gồm: Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh.
Theo Khoản 2, Điều 6 Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức, quy định công chức trong cơ quan hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện gồm: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng 8 Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Theo Khoản 3, Điều 9 Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức, quy định công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương cấp huyện gồm: Người làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương. Như vậy công chức cấp huyện gồm: Cán bộ công chức tại các cơ quan Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội huyện. Trước yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nước, Luật Cán bộ, công chức của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 đã quy định rõ: “công chức cấp huyện là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [51; 15].
Hệ thống chính trị cấp huyện và vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ công chức cấp huyện 1. Hệ thống chính trị cấp huyện Huyện là một đơn vị cấp hành chính trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành chính, là cấp trung gian theo sự phân cấp quản lý. Cán bộ, công chức cấp huyện có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội, đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động; điều hành 9 các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo điều 119 Hiến pháp 2013 ở nước ta có 4 cấp hành chính: cấp Trung ương, cấp tỉnh (bao gồm các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương); cấp huyện (bao gồm các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); cấp xã (bao gồm các xã, phường, thị trấn).
Cấp huyện được gọi là cấp địa phương. Cấp huyện là cấp gần với cơ sở nhất, do vậy ngoài những điểm trung của hệ thống chính trị đã nêu trên, hệ thống chính trị cấp huyện còn có một số đặc điểm riêng: Thứ nhất, hệ thống chính trị cấp huyện là cấp trung gian, là cầu nối giữa cơ sở, nhân dân với Đảng và Nhà nước, cụ thể: - Hệ thống chính trị cấp huyện là cấp trực tiếp chỉ đạo cơ sở tuyên truyền, giáo dục, vận động, tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao. - Hệ thống chính trị cấp huyện trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cơ sở tổ chức thực hiện việc phát triển kinh tế - xã hội, phát huy mọi nguồn lực, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. - Hệ thống chính trị cấp huyện giải quyết những phản ánh, kiến nghị của cơ sở thuộc thẩm quyền của mình đồng thời kiến nghị lên cấp trên những phản ánh của cơ sở không thuộc thẩm quyền.
- Hệ thống chính trị cấp huyện tổng kết những kinh nghiệm từ thực tiễn việc chỉ đạo các hoạt động ở huyện để từ đó góp phần đề xuất những vấn đề đã được thực tiễn kiểm nghiệm vào việc điều chỉnh, bổ sung và hoàn chỉnh đường lối, cơ chế, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Như vậy, hệ thống chính trị cấp huyện có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định và phát triển ở địa phương. Thực tế cho thấy ở địa phương nào xây dựng được hệ thống chính 10 trị vững mạnh thì ở đó kinh tế phát triển, tình hình chính trị xã hội ổn định và ngược lại, những nơi hệ thống chính trị cấp huyện yếu kém sẽ kéo theo sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, chính quyền gây mất ổn định chính trị - xã hội.