Chương 1: Cơ sở lý luận về phòng, chống tham nhũng vặt trong giải quyết thủ tục hành chính tại Việt Nam Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của tham nhũng vặt trong giải quyết thủ tục hành chính tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp phòng chống tham nhũng vặt trong giải quyết thủ tục hành chính tại Việt Nam 6 Chưong 1 CO SỞ LÝ LUẬN VẺ PHÒNG, CHÓNG THAM NHŨNG VẬT TRONG GIẢI QUYÉT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm tham nhũng vặt trong giải quyêt thù tục hành chính 1. Khái niệm và đặc điêm của tham nhũng Tham nhũng là một hiện tượng chính trị - xã hội phức tạp có thề tiếp cận được dưới nhiều góc độc khác nhau. Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhùng 2018: “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ.
quyên hạn dã lợi dụng chức vụ, quyên hạn đó vì vụ lợi1’. Theo định nghĩa này, người cỏ chức vụ quyền hạn không chi giới hạn trong khu vực công mà còn cả trong khu vực tư nhân. Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn là một hành vi cố ý, cỏ ý thức trong việc sử dụng quyền lực đế điều tiết các quan hệ kinh tê - xã hội thuộc phạm vi điêu chỉnh cùa quyên lực mà người có chức vụ quyền hạn được giao. Mục tiêu vụ lợi của người có chức vụ, quyền hạn không chỉ giới hạn ở các lợi ích vật chất mà còn bao gồm cà nhũng lợi ích phi vật chất.
Nhưng lợi ích này thu được không xuất phát từ sự lao động, chuyển giao hợp pháp mà xuất phát từ việc lợi dụng vị thể quyền lực của mình dể làm trái các tiêu chuẩn, quy tắc mà thu lợi. Ngoài các lợi ích về vật chất, các lợi ích phi vật chất có phạm vi rất rộng, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau mà không thể đo đếm bằng các đại lượng do lường thông thường. Điển hình cho các hành vi hối lộ lợi ích phi vật chất có thể kể đến là hội lộ tình dục, nịnh bợ, sự giúp đờ qua lại lẫn nhau trong công việc. Những lợi ích phi vật chất có thể chưa trực tiếp gây ra các thiệt hại trước mặt nhưng về lâu dài có thể phá hủy các giá trị đạo đức công vụ, liêm chính kinh doanh từ đó gây giảm sút hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Tham nhũng là một hiện tượng không ngừng biến đổi và vận động. Các hình thái, phương thức, thủ đoạn của tham nhùng không ngừng thay đồi qua các thời kì. Tuy nhiên trong một mối quan hộ xà hội bị tác động bởi tham nhũng thường có một số đặc điểm chung như sau: 7 Thứ nhát, tham nhũng luôn luôn tôn tại găn liên vời quyên lực. Nêu như trước kia xà hội nhận thức rằng tham nhũng chỉ gắn liền với quyền lực công thì hiện tại.
tham nhũng trong khu vực tư đã dược luật hóa và xác định một cách rõ ràng các hành vi, thủ đoạn tham nhũng. Quyền lực bị tham nhũng không phải là quyền lực xuất phát từ năng lực, uy tín hay tài sản của cá nhân tham nhũng mà xuất phát từ một chủ thể khác. Thứ hai, tham nhũng có đặc điểm là nhưng hành vi sai trái các quy định của pháp luật, quy chế nội bộ, quy tác của tổ chức. Nếu thức hiện đúng các quy định của pháp luật, quy chế nội bộ, quy tắc của tổ chức thì không thẻ thu được lợi riêng nên mới nảy sinh hành vi tham nhũng.
Thứ ba, trong một mối quan hệ xã hội bị tham nhũng luôn luôn gây ra những thiệt hại cho một hoặc một số đối tượng hoặc cho cả xã hội. Thiệt hại này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể đo lường hoặc không thế đo lường nhưng luồn luôn là cơ sở để chủ thể tham nhũng thu được lợi ích từ đó. Chẳng hạn như việc một người công chức nhũng nhiễu, hạch dịch, cố tình làm chậm quá trình giải quyết hồ sơ vừa gây ra thiệt hại cho đối tượng yêu cầu giải quyết TTHC vừa gây ra thiệt hại đối với uy tín của cơ quan hành chính nhà nước. Một bác sĩ phân biệt đối xử trong khám chữa bệnh khi ưu tiên khám chừa bệnh cho người trả phí bôi trơn vừa gây ra thiệt hại đối với sức khỏe của người bị phân biệt đối xử, vừa gây hại đến uy tín của bệnh viện, v.
Khái niệm, đặc điềm, nguồn gốc lịch sử của thủ tục hành chính Thủ tục được hiểu là quá trình bao gồm các trình từ nối tiếp nhau để thực hiện nhàm hưởng tới một kết quả. Thủ tục cũng có thế hiểu là các bước thực hiện một công việc một cách tuần tự theo một tiêu chuẩn, quy định đề đảm bảo các hoạt động mang tính thống nhất, hiệu quả, thuận tiện. Hành chính được hiểu đơn giản nhất là việc thực hiện các công việc, quy trình, thủ tục để đảm bảo sự vân hành của một cơ quan, tổ chức. Hành chính vì vậy gắn liền với bộ máy thực hiện hoạt động quàn lý điều hành và các đối tượng chịu sự quàn lý, điều hành.
“Theo từ điển Oxford, hành chính là các hoạt động, công việc như lập kế hoạch, tố chức, thực hiện các công việc để vận hành một công việc kinh 8 doanh, trường học. các tổ chức khác hoặc là cách để tổ chức, sắp xép còng việc dể các công việc có thể dược thực hiện’'. [9] Theo nghía rộng TTHC cỏ thể hiểu là cách thức tồ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước. [ 10] Theo nghĩa hẹp, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP quy định: "TTIIC là trình tự.
cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu. điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thấm quyền quy định dể giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức". Trong đó, “trình tự thực hiện’' là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC trong giải quyết một công việc cụ thế cho cá nhân, tồ chức. “Hồ sơ” là nhừng loại giấy tờ mà đổi tượng thực hiện TTHC cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tồ chức có thẩm quyền giải quyết TTHC trước khi cơ quan thực hiện TTHC giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.
diều kiện” là những đòi hởi mà đối tượng thực hiện 1THC phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một TTHC cụ thể. Các hoạt động cung cấp các dịch vụ công cua cơ quan nhà nước cho người dân có lịch sử tồn tại từ rất lâu đời. Thời phong kiến, pháp luật không có sự phân chia giữa các quan hệ dân sự. hình sự, hành chính.
Hệ thống pháp luật có sự hỗn tạp và phụ thuộc nhiều hơn vào đạo đức của vị quan có thầm quyền điều hành cũng như phản xử mọi công việc trong phạm vi mình quản lý. Điển hình cho tình trạng trên có thể kể đến là Bộ luật Hồng Đức thời nhà Hậu Lê, Bộ luật Gia Long thời nhà Nguyễn. Cà hai văn bản này đều có những quy định cả về mặt nội dung, thủ tục và chế tài cho các quan hệ xà hội đa dạng từ dân sự đến hành chính, hình sự. Tuy nhiên, những tư tưởng về quy trình thủ tục giải quyết hành chính một cách chuyên biệt chưa hề tồn tại.
Mối quan hệ lúc này vẫn mang tính xin - cho của quan lại với người dân. Việc thực hiện không đúng hay chậm trề trong việc giải quyết các yêu cầu của người dân không phát sinh trách nhiệm pháp lý. Các tư tưởng về TTHC hiện đại như ngày này xuất phát từ quan niệm về mô hình hành chính quan liêu theo học thuyết quản trị hành chính của nhà xã hội học 9 Marx Weber. Marx Weber cho răng các tô chức cân sãp xêp nhân sự dựa trên nguyên tác trao quyền hạn hợp lý.
Theo ông quyền lực nên trao cho những người có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc cao nhất thay vì những người thân tín có mối quan hệ với nhau. De thực hiện được thực hiện dược mô hình hành chính quan liệu của Marx Weber đòi hỏi 6 yêu cầu cơ bản bao gồm: “Thứ nhất, các cơ quan nhà nước hoạt động trên sự phân công, chức năng nhiệm vụ chính thức. Các hoạt động của cơ quan nhà nước phải tuân thủ các quy định của pháp luật Thứ hai, cấu trúc tổ chức bộ máy hành chính phân cấp quyền lực từ trên xuống dưới và thông tin bảo cáo từ dưới len trên. Thứ ba, cách thức tồ chức và vận hành phải được dựa trên các văn bản chính thức bằng chữ viết để có thể đảm bảo trách nhiệm giải trình và sự liên lục Thử lư, công chức dược kì vọng phải tách biệt dời sống cá nhân ra khỏi hoạt dộng công vụ, dưa ra các quyết định dựa trên các quy tắc pháp lý chỉnh thức thay vi những thiên kiến cá nhân.
Khi làm việc các công chức phải tập trung vào chức năng nhiệm vụ của mình được giao thay vi tập trung vào sờ thích cá nhân Thứ năm, có sự chuyên môn hóa trong đào tạo, làm việc của mỗi cá nhân gắn với mồi ví trị công việc cũng như có sự phân chia rõ ràng về nhiệm vụ của họ. Thứ sáu, quản trị dựa trên các quy tắc được ghi nhận rõ ràng và đù chi tiết để có rất ít cơ hội tùy nghi định đoạt”. [11] TTHC là các bước mà cơ quan nhà nước đặt ra để tồ chức thực hiện một công việc nhất định, đáp ứng các yêu cầu của người dân. TTHC là phương tiện để nhà nước cung cấp dịch vụ công cho người dân.
Người dân muốn được cung cấp dịch vụ công phải thỏa màn các điều kiện và thực hiện đầy đù các bước trong yêu cầucùaTTHC. TTIỈC gẳn liền với quá trình hiện đại hóa hoạt dộng quản lý nhà nước theo hướng chuyên nghiệp, chuyên trách, chuẩn mực và chỉ được coi trọng khi các nhà nước chuyển từ mô hình phong kiến sang lư bản. TTHC dược áp dụng thống nhất cùng là cơ sớ để nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng quản lý của mình, hạn chế sự tùy tiện của người có chức vụ, quyền hạn trong giải quyết thủ lục. 10 Theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 quy dịnh về kiểm soát việc quy định, thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, các đặc điềm của thủ tục hành chính là: Thứ nhất.