Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp việt nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

Luận văn thạc sĩ UEH đề xuất giải pháp hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho doanh nghiệp Việt Nam theo chuẩn mực kế toán quốc tế.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

152
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BCLCTT THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

1.1. Tổng quan về BCLCTT

1.2. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BCLCTT

1.3. Ý nghĩa thông tin của BCLCTT

1.4. Nội dung cơ bản của BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

1.5. Những thuật ngữ cơ bản

1.6. Luồng tiền vào và ra trong BCLCTT

1.7. Phương pháp lập và trình bày BCLCTT

1.7.1. Phương pháp trực tiếp

1.7.2. Phương pháp gián tiếp

1.8. Mối quan hệ giữa BCLCTT và các BCTC khác

1.9. Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCĐKT

1.10. Mối quan hệ giữa BCLCTT và BCKQHĐKD

1.11. Mối quan hệ giữa BCLCTT và thuyết minh BCTC

1.12. So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.12.1. So sánh sự khác biệt của chuẩn mực BCLCTT các nước và quốc tế

1.12.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.13. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BCLCTT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về lập và trình bày BCLCTT tại Việt Nam

2.2. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BCLCTT

2.3. Nội dung cơ bản chuẩn mực VAS 24

2.4. Các khái niệm cơ bản

2.5. Phân loại luồng tiền

2.6. Phương pháp lập BCLCTT

2.7. So sánh sự khác biệt giữa BCLCTT theo IFRS và theo chuẩn mực Việt Nam

2.8. Khảo sát về việc lập và trình bày BCLCTT tại Việt Nam

2.9. Thu thập dữ liệu

2.10. Khảo sát những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong việc lập BCLCTT theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam

2.11. Khảo sát tính hữu ích của thông tin BCLCTT

2.12. Khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT ở Việt Nam

2.13. Khảo sát mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội nhập kế toán Việt Nam và quốc tế

2.14. Phương pháp xử lý

2.15. Kết quả khảo sát những thuận lợi và khó khăn hiện nay trong việc lập BCLCTT theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam

2.16. Kết quả khảo sát tính hữu ích của thông tin BCLCTT

2.17. Kết quả khảo sát tính tuân thủ khi vận dụng các văn bản pháp quy kế toán về việc vận dụng và trình bày BCLCTT ở Việt Nam

2.18. Kết quả khảo sát mức độ hội nhập cũng như những thuận lợi khó khăn khi hội nhập kế toán Việt Nam và quốc tế

2.19. Những mặt đã làm được, chưa làm được và nguyên nhân tồn tại

2.20. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP BCLCTT TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THEO HƯỚNG HÒA HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ

3.1. Quan điểm hoàn thiện

3.2. Định hướng xây dựng giải pháp

3.3. Dựa trên khuôn mẫu lý thuyết kế toán

3.3.1. Tiếp cận trên cơ sở hoàn thiện các mục tiêu nghiên cứu

3.3.2. Tiếp cận từ các chủ thể liên quan BCLCTT

3.3.3. Tiếp cận từ các tổ chức lập quy

3.3.4. Tiếp cận từ người lập và người sử dụng BCLCTT

3.3.5. Trách nhiệm của các trường đại học và trung tâm đào tạo kế toán

3.4. Giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT tại các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

3.5. Hoàn chỉnh VAS 24 theo hướng hòa hợp với kế toán quốc tế

3.6. Ban hành mới thông tư về BCLCTT theo chuẩn mực kế toán quốc tế

3.7. Hoàn thiện quy trình lập BCLCTT phương pháp gián tiếp theo chuẩn mực kế toán quốc tế

3.8. Kết luận chương 3

LỜI KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là một phần quan trọng trong hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nó cung cấp thông tin về luồng tiền vào và ra, giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư đánh giá khả năng thanh toán và khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp. Việc hoàn thiện nội dung và phương pháp lập BCLCTT theo chuẩn mực quốc tế là cần thiết để nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính.

1.1. Ảnh hưởng của chuẩn mực quốc tế IFRS đến BCLCTT

Chuẩn mực quốc tế IFRS đã đặt ra các yêu cầu nghiêm ngặt về việc lập BCLCTT, từ đó giúp doanh nghiệp Việt Nam có thể hội nhập tốt hơn vào thị trường quốc tế. Việc áp dụng IFRS không chỉ giúp cải thiện chất lượng báo cáo mà còn nâng cao khả năng thu hút đầu tư nước ngoài.

1.2. Tầm quan trọng của BCLCTT trong quản lý tài chính

BCLCTT không chỉ là công cụ để báo cáo mà còn là công cụ quản lý tài chính hiệu quả. Nó giúp doanh nghiệp theo dõi và phân tích luồng tiền, từ đó đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn hơn.

II. Những thách thức trong việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại Việt Nam

Mặc dù BCLCTT có vai trò quan trọng, nhưng việc lập báo cáo này tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức. Các doanh nghiệp thường thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của BCLCTT, dẫn đến việc lập báo cáo không đầy đủ và chính xác. Hơn nữa, sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực quốc tế cũng gây khó khăn trong việc áp dụng.

2.1. Thiếu hụt kiến thức về BCLCTT

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của BCLCTT trong việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích. Điều này dẫn đến việc lập báo cáo không chính xác và thiếu minh bạch.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng chuẩn mực quốc tế

Sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực quốc tế IFRS tạo ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc lập BCLCTT. Doanh nghiệp cần có thời gian và nguồn lực để điều chỉnh quy trình lập báo cáo cho phù hợp.

III. Phương pháp hoàn thiện báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chuẩn mực quốc tế

Để hoàn thiện BCLCTT, doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp lập báo cáo theo chuẩn mực quốc tế. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng báo cáo mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư nước ngoài.

3.1. Áp dụng phương pháp lập BCLCTT trực tiếp

Phương pháp lập BCLCTT trực tiếp giúp doanh nghiệp dễ dàng theo dõi luồng tiền vào và ra. Điều này không chỉ giúp cải thiện tính minh bạch mà còn giúp các nhà quản lý có cái nhìn rõ ràng hơn về tình hình tài chính.

3.2. Cải tiến quy trình lập BCLCTT gián tiếp

Quy trình lập BCLCTT gián tiếp cần được cải tiến để phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Doanh nghiệp cần xác định rõ các khoản mục và luồng tiền để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của báo cáo.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về BCLCTT

Việc áp dụng các giải pháp hoàn thiện BCLCTT đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho các doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đã cải thiện được chất lượng báo cáo và tăng cường khả năng thu hút đầu tư.

4.1. Kết quả khảo sát về BCLCTT tại doanh nghiệp

Khảo sát cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực quốc tế đã cải thiện đáng kể chất lượng BCLCTT. Điều này giúp họ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và nâng cao uy tín trên thị trường.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ doanh nghiệp thành công

Các doanh nghiệp thành công trong việc lập BCLCTT theo chuẩn mực quốc tế đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Họ đã đầu tư vào đào tạo nhân sự và cải tiến quy trình lập báo cáo để đảm bảo tính chính xác và minh bạch.

V. Kết luận và tương lai của báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại Việt Nam

BCLCTT là một phần không thể thiếu trong hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Việc hoàn thiện BCLCTT theo chuẩn mực quốc tế không chỉ giúp nâng cao chất lượng báo cáo mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hội nhập kinh tế quốc tế.

5.1. Tương lai của BCLCTT tại doanh nghiệp Việt Nam

Trong tương lai, BCLCTT sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính. Doanh nghiệp cần tiếp tục cải thiện quy trình lập báo cáo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ thị trường.

5.2. Định hướng phát triển BCLCTT theo chuẩn mực quốc tế

Định hướng phát triển BCLCTT theo chuẩn mực quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp cần chủ động trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế để hội nhập tốt hơn.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ tại các doanh nghiệp việt nam theo hướng hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BCLCTT THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ: 1. Tổng quan về BCLCTT: 1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của BCLCTT: Thời trung cổ, kế toán luồng tiền là một trong những hình thức lâu đời nhất trong việc lưu trữ hồ sơ, trong thời gian đó, tất cả các giao dịch kinh doanh ghi nhận những nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt thực tế thu được hoặc thanh toán mà không liên quan đến thời gian cụ thể của các giao dịch. Dưới sự phát triển của nguyên tắc bút toán kép và kế toán dồn tích, công tác kế toán đã có sự thay đổi triệt để phù hợp với chi phí cho việc sử dụng các nguồn lực và các khoản thu liên quan được tạo ra bởi những nguồn lực tương tự.

Sự phát triển BCLCTT ở Mỹ: Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), trước những năm 1960, báo cáo thường niên của các công ty Mỹ chỉ bao gồm báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán, có rất ít hoặc không có thông tin về lưu chuyển các nguồn lực trong giai đoạn này. Đến đầu những năm 1960, một số công ty đã có những bước điều chỉnh để báo cáo tài chính của họ giải quyết vấn đề này, đó là thực hiện các báo cáo lưu chuyển quỹ. Điều này làm nảy sinh một vấn đề nan giải khi so sánh báo cáo lưu chuyển quỹ giữa các công ty do thiếu quy định đầy đủ. Năm 1961, Hiệp hội kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) đã ra mắt Nghiên cứu Kế toán số 2 – Phân tích "Luồng tiền" và Báo cáo quỹ nhằm chuẩn hóa việc công bố thông tin của họ.

Tháng 10 năm 1963 Ủy Ban nguyên tắc kế toán (APB) ban hành Ý kiến số 3 của họ về "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ". Họ đề nghị nhưng không bắt buộc sử dụng "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ"(SSAF) như là một phần bổ sung báo cáo thường niên của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tháng 3 năm 1971, APB thay thế Ý kiến số 3 bằng Ý kiến số 19 – "Báo cáo thay đổi về tình hình tài chính" cho tất cả các công ty công bố báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán trong báo cáo thường niên. Về sau, có nhiều ý kiến cho rằng các báo cáo lưu chuyển quỹ là khá khó hiểu, không rõ ràng và dễ gây hiểu lầm.

Hơn nữa, việc định nghĩa lỏng lẻo các "quỹ", "vốn lưu động" hoặc "tiền mặt", bị chỉ trích nặng nề. Năm 1987, FASB ban hành Chuẩn mực Kế toán tài chính (SFAS) số 95 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" thay APB số 19. Mỹ là một trong những nước đầu tiên giới thiệu chuẩn mực về công bố luồng tiền. Chuẩn mực đã loại bỏ sự mơ hồ của APB số 19, nó cũng phát triển để hoàn thiện khuôn mẫu lý thuyết kế toán của FASB.

FASB đã thiết kế SFAS số 95 nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin để đánh giá tốt hơn luồng tiền tương lai nhằm xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai của công ty. Sự phát triển BCLCTT ở Anh: Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), lịch sử phát triển của BCLCTT ở Anh theo một mô hình rất giống với Mỹ, tuy nhiên các doanh nghiệp Vương quốc Anh đã chậm hơn rất nhiều về việc chấp nhận và sử dụng các báo cáo lưu chuyển quỹ. Vào những năm 1970, Viện Kế toán Công chứng tại Anh và xứ Wales (ICAEW) điều tra về các báo cáo thường niên đã thấy được sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi báo cáo lưu chuyển quỹ trong các công ty thuộc Vương quốc Anh. Tháng 7 năm 1975, SSAP 10 "Báo cáo về nguồn và sử dụng ngân quỹ" được ban hành.

Việc SSAP 10 thiếu sự hướng dẫn rõ ràng đã tạo áp lực cho Hội đồng chuẩn mực kế toán (ASB) tiếp tục đổi mới. Tháng 9 năm 1991, ASB ban hành Chuẩn mực Báo cáo tài chính (FRS) 1 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ", FRS 1 chịu nhiều ảnh hưởng từ SFAS số 95 của Mỹ. Chuẩn mực này đã chuyển từ báo cáo lưu chuyển "quỹ" sang tập trung vào báo cáo "tiền mặt" được tạo ra và hấp thụ trong kỳ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ASB đã cung cấp một định nghĩa rõ ràng về "luồng tiền", tiếp tục giúp cho việc tăng khả năng so sánh các BCLCTT giữa các công ty.

Chuẩn mực đã định nghĩa "lưu chuyển tiền tệ" như một sự tăng, giảm "tiền mặt" hoặc "các khoản tương đương tiền". Hơn nữa, FRS 1 định nghĩa "tiền" là các khoản tiền mặt giữ trong tay, tiền gửi và "các khoản tương đương tiền" như các khoản "đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản" chuyển đổi thành tiền mặt mà không cần thông báo và đáo hạn trong vòng ba tháng kể từ ngày phát hành. Những thay đổi này là một cải tiến lớn về định nghĩa lỏng lẻo của các "quỹ thanh khoản" được cung cấp bởi SSAP 10, giúp cho việc tăng khả năng so sánh giữa BCLCTT. Sự phát triển BCLCTT ở Úc: Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), giống như Mỹ và Anh, báo cáo lưu chuyển quỹ và BCLCTT của Úc cũng phát triển theo một chu kỳ tương tự.

Tháng 1 năm 1971, Viện Kế toán Công chứng Úc (ICAA) phát hành tập san kỹ thuật F1:"Báo cáo Quỹ". Khi Sở Giao dịch chứng khoán Úc sửa đổi quy tắc niêm yết vào năm 1972, các báo cáo lưu chuyển quỹ trở nên phổ biến, các công ty đại chúng phải nộp một các báo cáo này như một phần của báo cáo thường niên. Trước năm 1985, Tổ chức nghiên cứu kế toán Úc (AARF) phát triển và ban hành chuẩn mực kế toán Úc mà không cần bất kỳ sự giám sát quản lý độc lập nào. Quy định của Chuẩn mực kế toán Úc chỉ bắt đầu khi Hội đồng rà soát chuẩn mực kế toán(ASRB) được thành lập vào năm 1985 với nhiệm vụ xem xét các tiêu chuẩn do AARF lập.

Xung đột giữa các ASRB và AARF đã làm chậm lại đáng kể quá trình chuyển đổi từ báo cáo lưu chuyển quỹ sang BCLCTT báo cáo tại Úc. ASRB ưa chuộng SFAS 95 khi chuẩn mực này áp dụng một phương pháp hoàn toàn mới của BCLCTT và đã thoát ra khỏi cái bóng của báo cáo lưu chuyển quỹ. Trong khi đó, tuy nhiên, AARF là nội dung để giữ lại bảng vốn lưu với các sửa đổi. Tháng 12 năm 1991, Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc (AASB) ban hành AASB 1026 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ".

AASB 1026 chịu nhiều ảnh hưởng của SFAS số 95, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trong đó yêu cầu luồng tiền được công bố theo cùng ba hoạt động:"kinh doanh","đầu tư" và "tài chính". Ở Úc, các công ty không được phép lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp, mặc dù phương pháp này được sử dụng ở Mỹ và Vương quốc Anh. Sự hình thành và thay đổi của chuẩn mực BCLCTT quốc tế: Theo Alan Jonathan Duboisée de Ricquebourg, (2013), cũng giống như FASB và ASB, IASC đã nhận ra rằng họ cần giải quyết các vấn đề liên quan đến Báo cáo lưu chuyển quỹ. Tháng 7 năm 1991 họ ban hành Dự thảo công bố (ED) 36: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Tháng 12 năm 1992, họ ban hành IAS 7 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash flow statement), hiệu lực cho tất cả các năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày 1 tháng 1 năm 1994. IAS 7 coi "luồng tiền" là sự kết hợp tất cả các luồng tiền vào và ra của "tiền và các khoản tương đương tiền" và không loại trừ " tương đương tiền" như FRS 1 (sửa đổi 1996). "Các khoản tương đương tiền" theo theo SFAS số 95 bao gồm "các khoản đầu tư ngắn hạn, có tính thanh khoản". IAS 7 phân loại luồng tiền bằng cách sử dụng phương pháp của Mỹ: theo hoạt động kinh doanh, đầu tư, và tài chính.

SFAS số 95 và IAS 7 có sự khác biệt quan trọng liên quan việc phân loại lãi suất và cổ tức. IAS 7, đoạn 31, cho phép lãi và cổ tức được phân loại dưới hoạt động "kinh doanh", "đầu tư" hoặc "tài chính", miễn là phương pháp được lựa chọn đã được áp dụng nhất quán từ một giai đoạn kế tiếp. Trong khi đó, SFAS số 95 chỉ cho phép phân loại tiền lãi nhận được, chi trả tiền lãi và cổ tức nhận được là hoạt động "kinh doanh", phân loại chi trả cổ tức như hoạt động "tài chính". Tháng 9 năm 2007, IASB đổi tên IAS 7 "Báo cáo lưu chuyển tiền tệ" từ "Cash Flow Statements" sang "Statement of Cash Flows".

Gần đây hơn, IASB sửa đổi IAS 7 yêu cầu việc công bố thông tin của chi phí vốn trong hoạt động đầu tư cho những nguồn tạo ra tài sản (IASB, 2010), văn bản này có hiệu lực từ năm tài chính kết thúc vào hoặc sau ngày 01 tháng một năm 2010. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa thông tin của BCLCTT: BCLCTT là báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan hữu quan và các đối tượng quan tâm như: Hội đồng quản trị, nhà đầu tư, người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên cùng toàn bộ cán bộ của doanh nghiệp. Đối với nội bộ doanh nghiệp: - Là phương tiện cần thiết để nhà quản lý phân tích, dự đoán khả năng về số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong kỳ kế tiếp, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả từ đó lập kế hoạch kinh doanh, sử dụng vốn có hiệu quả cho kỳ đó.

- Là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có biện pháp cụ thể cho việc nâng cao hiêu quả kinh doanh của mình Đối với đối tượng ngoài doanh nghiệp - Cung cấp thông tin cho người sử dụng về các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền trong quá trình hoạt động. - Làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động của doanh nghiệp và khả năng so sánh của các doanh nghiệp vì nó loại trừ được ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng một giao dịch. - Cung cấp các chỉ tiêu, số liệu đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, đồng thời cho biết nhu cầu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các khoản tiền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ