Chương 1 trình bày tổng quan về đề tài, cụ thể bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và cuối cùng là cấu trúc đề tài. Tiếp theo trong Chương 2 tác giả trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực. 8 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan Nguồn nhân lực: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể; nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực của con người còn tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác và giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiềm năng về thể lực của con người là không bao giờ thiếu hoặc lãng quên và có thể nói như đã khai thác gần đến mức cạn kiệt. Sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người.” (Nguyễn Văn Điểm, Nguyễn Ngọc Quân, 2014) Theo Trần Kim Dung (2011), “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. Các cơ quan chuyên môn của Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn nhân lực bao hàm những người đang làm việc và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Một số nhà khoa học của Việt Nam thì cho rằng nguồn nhân lực “được hiểu là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” (Theo Lyluanchinhtri. Theo Chu Văn Cấp (2012), ba yếu tố được quan tâm khi nói đến nguồn nhân lực là tri thức, trí tuệ, năng lực hoạt động của con người biểu hiện ở khả năng áp dụng những 9 thành tựu khoa học công nghệ, sự nhạy bén thích nghi nhanh, làm chủ được công nghệ kỹ thuật hiện đại và khả năng sáng tạo, đổi mới khoa học công nghệ, sức khỏe không chỉ là tình trạng không có bệnh tật mà còn biểu hiện ở sự hoàn thiện về mặt thể chất và tinh thần. Quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực phức tạp hơn quản trị các nguồn lực khác do bản chất của con người.
Về mặt khoa học hành vi tổ chức, mỗi con người là một thế giới riêng biệt, mỗi người khác nhau sẽ rất khác nhau về đặc tính tiểu sử, tính cách, năng lực trí tuệ, năng lực thể chất, xúc cảm, văn hóa, sự sắp xếp diễn dịch khác nhau của các thông tin nhận được từ môi trường đối với từng con người cũng dẫn đến nhận thức khác nhau, do đó tất cả các yếu tố trên dẫn đến hành vi của từng cá nhân là khác nhau. Cũng chính từ những đặc điểm nhóm, lợi ích nhóm, cấu trúc nhóm mà dẫn đến hành vi nhóm của các nhóm là khác nhau. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Một nhà lãnh đạo giỏi cần thiết phải là một người phát hiện được năng lực tiềm ẩn của nhân viên, qua đó phát huy và phát triển phần năng lực của tảng băng chìm này (thông thường chiếm đến hơn 80%).
Tổ chức chỉ thành công khi từng con người rất khác nhau trong tổ chức có được những giá trị chung và cùng hướng đến một mục tiêu. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị nguồn nhân lực: Quản trị nguồn nhân lực là một quá trình quản lý năng lượng và năng lực của con người nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, được thực hiện thông qua việc tuyển dụng, phát triển, sử dụng tối ưu, duy trì một lực lượng lao động có năng lực và tận tâm trong môi trường thay đổi. Quản trị nguồn nhân lực là một hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. (Trần Kim Dung, 2011) Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các doanh nghiệp, tổ chức đó tồn tại và phát triển, đóng một vai trò chiến lược trong chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp, tổ chức vì quản trị nguồn 10 nhân lực có liên quan đến tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp (Nguyễn Thành Hội, 2002) Thu hút nguồn nhân lực: Thu hút nguồn nhân lực là một trong những chức năng quan trọng của quản trị nguồn nhân lực nhằm đảm bảo đủ số lượng nhân viên với trình độ, kỹ năng, phẩm chất phù hợp với công việc và bố trí họ vào đúng công việc để đạt được hiệu quả cao nhất.
Hoạt động thu hút nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, quá trình tuyển dụng, trắc nghiệm và phỏng vấn. Duy trì nguồn nhân lực: Duy trì nguồn nhân lực là một trong những chức năng quan trọng của quản trị nguồn nhân lực nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong doanh nghiệp. Mục đích của duy trì nguồn nhân lực là làm thế nào để người lao động gắn bó, trung thành với tổ chức thông qua các biện pháp: khích lệ, động viên và các hoạt động khác nhằm tạo động lực cho họ làm việc hăng say, tận tình, có ý thức trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao. Decenzo (1988), “duy trì nguồn nhân lực” là tạo ra một môi trường để người lao động cảm thấy phấn khởi và thiết tha về công việc như là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ tại doanh nghiệp.2 Vai trò của thu hút nguồn nhân lực Hoạt động thu hút nguồn nhân lực có các vai trò sau: - Giúp tổ chức có được nguồn nhân lực đủ chất và đủ lượng để thực hiện những mục tiêu của tổ chức.
- Giúp tổ chức sàng lọc, tuyển dụng được những nhân tố mới giúp nguồn nhân lực của tổ chức đa dạng và sáng tạo. - Giúp thay thế các nhân sự không phù hợp với tổ chức. - Nhờ hoạt động phân tích công việc mà hoạt động thu hút giúp tổ chức có được các ứng viên phù hợp với tổ chức ngay từ đầu thông qua bảng tiêu chuẩn về công việc gồm kiến thức, kỹ năng và khả năng, tuyển được đúng người đúng việc ngay từ 11 đầu, tránh tình trạng tuyển người không đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc tổ chức không khai thác hết tiềm năng của người lao động. - Là tiền đề giúp doanh nghiệp thực hiện tốt các chức năng đào tạo phát triển và duy trì, giảm thiểu tối đa sự lãng phí do tuyển sai người.
Khi doanh nghiệp cần bổ sung hoặc thay thế lực lượng lao động mà chức năng duy trì không đáp ứng được hoặc chức năng đào tạo phát triển chưa đáp ứng kịp thời thì chức năng thu hút là phương cách hiệu quả giúp doanh nghiệp huy động đủ nguồn nhân lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu công ty. Để thực hiện tốt chức năng thu hút thì tổ chức phải thực hiện tốt công tác hoạch định nguồn nhân lực và phân tích công việc. Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực trong hiện tại và tương lai, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. (Trần Kim Dung, 2011) Quá trình hoạch định được thực hiện theo các bước như sơ đồ tại Hình 2.1: Dự báo, Dự báo, phân tích xác định công nhu cầu Phân nguồn việc tích môi nhân lực trường, xác định Thực mục tiêu Chính hiện: và chiến sách Phân Phân -Thu hút Kiểm lược cho -Đào tạo đơn vị tích hiện tích tra đánh trạng cung và phát giá tình quản trị cầu, khả triển hình nguồn năng -Trả công thực Kế và kích nhân lực điều hiện hoạch/ thích chỉnh Chương -Quan hệ trình lao động Hình 2.1: Quá trình hoạch định nguồn nhân lực (Trần Kim Dung, 2011) 12 Để thực hiện tốt công tác hoạch định nguồn nhân lực thì phải thực hiện tốt công tác phân tích công việc.
Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiêm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện tốt công việc. Khi phân tích công việc cần xây dựng được hai tài liệu cơ bản là bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc. Bảng mô tả công việc là văn bản liệt kê các chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ trong công việc. Bảng mô tả công việc giúp cho chúng ta hiểu được nội dung, yêu cầu của công việc và hiểu được quyền hạn, trách nhiệm khi thực hiện công việc.
Bảng tiêu chuẩn công việc là văn bản liệt kê những năng lực cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, khả năng giải quyết vấn đề, các kỹ năng khác và các đặc điểm cá nhân thích hợp nhất cho công việc. Bảng tiêu chuẩn công việc giúp chúng ta hiểu được doanh nghiệp cần mẫu nhân viên như thế nào để thực hiện công việc tốt nhất. Theo quan điểm của tác giả, bảng tiêu chuẩn công việc cho từng chức danh cần được xây dựng trên cơ sở mô hình năng lực ASK như được trình bày tại 2. Phân tích công việc Bảng mô tả công việc Bảng tiêu chuẩn công việc Tuyển Đào tạo, Đánh giá Xác định Trả công, dụng, chọn huấn luyện nhân viên giá trị công khen lựa việc thưởng Hình 2.2: Ích lợi của phân tích công việc Nguồn: Quá trình hoạch định nguồn nhân lực (Trần Kim Dung, 2011) 13 2.