CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TỶ GIÁ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Khái niệm về tỷ giá Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng. Trong thời đại của thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… các quốc gia thanh toán với nhau thông qua giao dịch liên quốc gia.
Thanh toán dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia. Hai đồng tiền được mua bán, trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định được gọi là tỷ giá. Cho đến nay có rất nhiều mô hình được đưa ra để giải thích sự hình thành và dự báo diễn biến của tỷ giá với các khái niệm về tỷ giá hối đối khác nhau. Mishkin: The Economics of Money, Banking and Financial Markets.
Addison – Wesley, Ninth Eddition 2010, trang 433: “The price of one currency in term of another is called the exchange rate – Giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác được gọi là tỷ giá”. Theo Giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện Tài chính, NXB Tài chính năm 2002, trang 238: “Thực chất của tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa các đồng tiền và là mức giá mà tại đó các đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau”. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, tỷ giá được xác định dựa trên quy luật cung cầu. Ngoài ra tỷ giá thường xuyên còn phản ánh những thay đổi trong các biến số xác định nó như: lạm phát, lãi xuất, tăng trưởng kinh tế… Như vậy tỷ giá không chỉ đơn thuần thể hiện tương quan sức mua giữa các đồng tiền.
Nguyễn Văn Tiến: Tài chính quốc tế hiện đại, NXB Lao động năm 2017, trang 274: “Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác”. 5 Với khái niệm này, tỷ giá được hiểu một cách hoàn chỉnh hơn và khắc phục được một số hạn chế của các khái niệm trước. Khái niệm tỷ giá này cũng được vận dụng để định nghĩa về tỷ giá của đồng Việt Nam tại Khoản 4 Điều 9 Pháp lệnh về ngoại hối 2013 của Việt Nam : “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.” Một số ví dụ về tỷ giá: Ví dụ 1: 1 USD = 22. Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá là 22.
Ví dụ 2: 1 EUR = 1,2312 USD. Trong ví dụ này, giá của EUR được biểu thị thông quá USD và 1 EUR có giá là 1,2313 USD. Các phương pháp yết giá 1. Đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá Trong tỷ giá có hai đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng kia đóng vai trò đồng tiền định giá.
- Đồng tiền yết giá (Commodity Currency): Là đồng tiền có số đơn vị cố định và thường bằng 1 đơn vị. - Đồng tiền định giá (Terms Currency): Là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Ví dụ: 1 AUD = 0,7642 USD, trong đó: AUD là đồng tiền yết giá, còn USD là đồng tiền định giá. Các phương pháp yết giá Yết tỷ giá trực tiếp : “Tỷ giá là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng số tiền nội tệ”.
Hầu hết các nước trên thế giới dùng phương pháp yết giá trực tiếp, trong đó có Việt Nam. 6 Yếu tỷ giá gián tiếp: “Tỷ giá là giá cả của một đơn vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại tệ”. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 5 đồng tiền dùng phương pháp yết giá gián tiếp, gồm: GBP, AUD, NZD, EUR và SDR. Phân loại tỷ giá 1.
Căn cứ vào chính sách tỷ giá Căn cứ vào cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, tỷ giá hối đoái được phân loại thành: tỷ giá chính thức, tỷ giá chợ đen, tỷ giá cố định, tỷ giá thả nối hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có điều tiết. - Tỷ giá chính thức – Official Rate (tại thời điểm hiện tại ở Việt Nam là tỷ giá trung tâm được tính toán trên cơ sở tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra, ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.
- Tỷ giá chợ đen – Black Market Rate: là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. - Tỷ giá cố định – Fixed Rate: là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi. - Tỷ giá thả nồi hoàn toàn – Freely Floating Rate: là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường mà không có sự can thiệp nào của NHTW.
- Tỷ giá thả nổi có điều kiện – Managed Floating Rate: là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tý giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Căn cứ vào mức độ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu - Tỷ giá danh nghĩa song phương (NER) là giá của một đơn vị ngoại tệ được biểu thị thông qua số đơn vị nội tệ mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hóa hàng hóa dịch vụ giữa chúng. - Tỷ giá thực song phương (RER) bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Từ định nghĩa ta có công thức xác định tỷ giá : P* E×P * e r =E× = (1) P P Trong đó: er - là tỷ giá thực (dạng số chỉ), E – là tỷ giá danh nghĩa (số đơn vị nội tệ trên ngoại tệ), P* - mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại, P – mức giá cả ở trong nước tính bằng nội tệ.
Trong thực tế để theo dõi và phân tích sự biến đổi của tỷ giá người ta sử dụng công thức sau: * 0 0 0 CPI t e rt =e t × CPI0t (2) 0 0 Trong đó: ert - là chỉ số tỷ giá thực tại thời điểm t so với thời điểm 0, e t - là chỉ số * 0 tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t so với thời điểm 0, CPI t - là chỉ số giá ở nước ngoài tại 0 thời điểm t so với thời điểm 0, CPI t - là chỉ số giá ở trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0. 8 - Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) là chỉ số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với các đồng tiền còn lại. Về thực chất, NEER không phải là tỷ giá mà là chỉ số. Trong thực tế, NEER được tính theo công thức sau.
n NEER i = eij×w j (3) J=1 Trong đó: e là chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương, w là tỷ trọng của tỷ giá song phương, j là số thứ tự của các tỷ giá song song, i là kỳ tính toán. Tương tự như NER, vì NEER chưa đề cập đến tương quan sức mua của các đồng tiền, do đó, đối với mỗi quốc gia, khi NEER tăng hay giảm không nhất thiết đồng nghĩa với việc tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này đối với các nước còn lại. - Tỷ giá thực đa phương (REER) bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) đã được điều chỉnh bởi lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. REER được xác định theo các bước sau: Bước 1: Tính tỷ giá NEER Bước 2: Tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ theo tỷ trọng GDP của mỗi nước.
Bước 3: Tính REER theo công thức: CPIiW REER i =NEER i × (4) CPIiVN 9 Trong đó: n j CPI ×GDP j=1 i j W CPI = i n (4.1) GDP j J W Trong đó: CPIi là chỉ số tiêu bình trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ, CPIiVN là chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ, j là số thứ tự của các đồng tiền trong rổ, i là kì tính toán. Về ý nghĩa của REER là tương tự như er , tuy nhiên, REER có ý nghĩa hơn ở chỗ nó là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tất cả các nước bạn hàng còn lại. Do có ý nghĩa như vậy nên hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố chỉ tiêu này. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và tỷ giá hối đoái được phân loại thành như sau: - Tỷ giá mua vào (Bid Rate): là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.
- Tỷ giá bán ra (Ask /Offer Rate): là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. - Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cũng cầu trực tiếp trên Forex và luôn có sẵn (không cần tính toán), được thỏa thuận ngày hôm nay, và việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo. 10 - Tỳ giá phái sinh – Derivative Rate: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng: Kỳ hạn (Forward), Hoán đổi (Swap), Tương lai (Futurre) và Quyền chọn (Option). Tỷ giá phái sinh không hình thành theo quan hệ cung cầu trực tiếp trên Forex, mà là kết quả tính toán từ các thông số có sẵn trên thị trường như: tỷ giá giao ngay, mức lãi suất của hai đồng tiền,.
Tỷ giá phái sinh thuộc loại tỷ giá có thời hạn, nghĩa là được thảo thuận ngày hôm nay, nhưng sử dụng thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. - Tỷ giá mở cửa (Opening Rate): là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày.