CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Cho thuê tài chính 1. Định nghĩa Cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là một hình thức cho thuê được vận dụng đầu tiên và rộng rãi tại Việt Nam, bên cạnh cho thuê vận hành. Theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và Nghị định số 65/2005/NĐ – CP ngày 19 tháng 5 năm 2005 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2 tháng 5 năm 2001, cho thuê tài chính là hoạt động trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu bên thuê, nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận. Hoạt động CTTC trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty CTTC được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Một giao dịch CTTC phải thỏa mãn một trong những điều kiện sau đây: - Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hay được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên.
- Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại. - Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê. - Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng CTTC ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các chủ thể tham gia giao dịch cho thuê tài chính.
Một giao dịch CTTC thông thường có các chủ thể sau tham gia: Bên cho thuê (Leasor) Bên thuê tài chính (Leasee) CHỦ THỂ TRONG CTTC Nhà cung cấp Tài sản cho thuê tài chính Hình 1. Các chủ thể tham gia giao dịch CTTC 1. Bên cho thuê (Leasor). Là nhà tài trợ vốn cho bên thuê và là chủ sở hữu tài sản trong một giao dịch CTTC.
Bên cho thuê có trách nhiệm thực hiện các thủ tục mua tài sản, thanh toán toàn bộ giá trị của tài sản thuê và chuyển giao tài sản cho bên thuê theo đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng CTTC. Đồng thời, bên cho thuê thông thường cũng là người thực hiện các thủ tục mua bảo hiểm và tiến hành các thủ tục liên quan đến quy định của Pháp luật (như đăng ký giao dịch đảm bảo) cho dịch vụ CTTC. Hiện nay dựa trên loại hình kinh doanh thì các công ty CTTC trên thế giới có thể phân thành 3 loại: công ty độc lập (independents), công ty phụ thuộc (captives), công ty môi giới (brokers). Riêng đối với Việt Nam, theo quy định “Luật các tổ chức tín dụng” chỉ có Công ty CTTC được thực hiện nghiệp vụ CTTC.
Theo Nghị định 95/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP: công ty CTTC là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam; được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới 3 hình thức: công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty cho thuê tài chính cổ phần. Bên thuê tài chính (Leasee) Là người nhận sự tài trợ tín dụng của công ty thuê mua hay là khách hàng thuê mua thiết bị, tài sản của người cho thuê. Người thuê cũng là người có quyền sử TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 3 dụng, hưởng dụng những lợi ích do tài sản đem lại và có trách nhiệm trả những khoản tiền theo thỏa thuận. Theo Nghị định số 16/2001/NĐ – CP và thông tư 05/2006/TT-NHNN qui định Bên thuê là tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình.
Bên thuê phải có đủ các điều kiện sau đây: - Một là có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật: Đối với bên thuê là tổ chức và cá nhân Việt Nam: Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự; cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện của hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Đối với bên thuê là tổ chức và cá nhân nước ngoài: Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự theo quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác. Căn cứ áp dụng pháp luật đối với tổ chức và cá nhân này được thực hiện theo quy định của pháp luật về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. - Hai là có dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư phục vụ đời sống khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật và sử dụng tài sản thuê để thực hiện dự án đó.
- Ba là có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán tiền thuệ trong thời hạn thuê đã cam kết. Nhà cung cấp. Nhà cung cấp có vai trò cung ứng thiết bị, tài sản theo hợp đồng mua bán đã ký với bên cho thuê (hoặc trong một số trường hợp là Hợp đồng mua bán ba bên). Nhận tiền thanh toán từ bên cho thuê, chuyển giao tài sản và có thể nhận thực hiện các dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng tài sản cho bên cho thuê.
Nhà cung cấp có thể chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 4 là các đơn vị trực tiếp sản xuất ra thiết bị, tài sản hoặc là các trung gian thương mại thực hiện việc bán các tài sản này. Tài sản cho thuê tài chính. Tùy thuộc vào các quy định của từng quốc gia trong từng thời kỳ mà tài sản cho thuê tài chính có thể có bao gồm những loại khác nhau. Tại phần lớn các nước, tài sản cho thuê tài chính là tất cả các loại động sản như tài sản thuộc nhóm phương tiện vận chuyển, các tài sản thuộc máy móc thiết bị và các tài sản là bất động sản như đất đai, nhà cửa phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng đều có thể tham gia trên thị trường CTTC.
Tuy nhiên, do quy định của từng quốc gia khác nhau mà các tài sản CTTC có thể không giống nhau. Hiện tại, trên thị trường CTTC Việt Nam, bất động sản không được xem là hàng hóa trên thị trường CTTC và do đó, các Công ty CTTC không được phép thực hiện CTTC đối với các tài sản là bất động sản. Như vậy, so với các quốc gia khác, chủng loại hàng hóa trên thị trường CTTC của Việt Nam có phạm vi nhỏ hơn. Các loại hình cho thuê tài chính 1.
Cho thuê tài chính thuần (ba bên) Theo phương thức này, bên cho thuê thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và đã được hai bên thỏa thuận theo hợp đồng thuê. Quy trình tài trợ có sự tham gia của ba bên, bao gồm: bên cho thuê, bên thuê, nhà cung cấp. BÊN THUÊ Trả tiền mua HỢP ĐỒNG MUA BÊN CHO THUÊ NHÀ CUNG ỨNG Quyền sở hữu Hình 1.2: Quy trình tài trợ ba bên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các hình thức cho thuê chuyên biệt Tái cho thuê Tái cho thuê hay còn gọi là mua và cho thuê lại là một dạng đặc biệt của phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên.
Trong hoạt động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để phục vụ hoạt động kinh doanh, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân hàng. Trong trường hợp đó, họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngân hàng hay công ty cho thuê, sau đó thuê lại tài sản để sử dụng và như vậy sẽ có thêm nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. 2a 2b 1a BÊN CHO THUÊ BÊN THUÊ 1b 2c 3 Hình 1.3: Quy trình tài trợ mua và cho thuê lại 1a. Bên cho thuê ký hợp đồng mua tài sản của doanh nghiệp.
Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng cho thuê. Doanh nghiệp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho công ty cho thuê. Công ty cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho doanh nghiệp được phép sử dụng tài sản. Ngân hàng trả tiền mua tài sản cho doanh nghiệp.
Nếu là biện pháp giải quyết nợ quá hạn thì khoản thanh toán này được thu hồi khoản nợ quá hạn. Theo định kỳ doanh nghiệp thanh toán tiền thuê cho công ty cho thuê. Cho thuê hợp tác Cho thuê hợp tác là một phương thức đặc biệt, biến tướng từ hai loại cho thuê cơ bản nói trên. Trong cho thuê hợp tác, bên cho thuê đã vay phần lớn vốn từ các ngân hàng hoặc các định chế trung gian khác để mua tài sản cho thuê.
Đối với các tài sản thuê có giá trị lớn, một bên cho thuê không đủ vốn để tài trợ hoặc sợ rủi ro vì tập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 6 trung vốn quá lớn vào một khách hàng. Trong trường hợp này, một hay một số bên cho thuê hợp tác với một hay nhiều bên cho vay khác để cùng tài trợ. 3b BÊN CHO VAY BÊN CHO THUÊ 1c 2b 2c 2a 1b 1a 3a 2d BÊN CUNG CẤP BÊN THUÊ 1d Hình 1.4: Quy trình tài trợ cho thuê hợp tác 1a. Bên cho thuê và bên thuê ký hợp đồng cho thuê.
Bên cho thuê và bên cung cấp ký hợp đồng mua tài sản 1c. Bên cho thuê và bên cho vay ký hợp đồng tín dụng. Bên cung cấp và bên thuê ký hợp đồng về bảo hành và bảo dưỡng tài sản. Bên cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho bên thuê.
Bên cho thuê thanh toán tiền mua tài sản bằng một phần vốn của mình và một phần vốn đi vay. Bên cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên thuê.