PHẦN MỞ ĐẦU 1) Cơ sở hình thành đề tài Trong giai đoạn 2008 – 2012, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn. Một mặt do bị ảnh hƣởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mặt khác là những điểm yếu kém trong việc quản lý nền kinh tế của nƣớc ta. Những năm trƣớc giai đoạn 2008 – 2012, nền kinh tế đã có những bƣớc tiến đột phá với tốc độ tăng trƣởng tốt thì trong 5 năm vừa qua, nó lại cho thấy sự hạn chế của việc phát triển theo chiều rộng và dàn trải, chủ yếu dựa vào việc tăng nguồn vốn và lao động. Và điều này đã dẫn đến một loạt những khó khăn trong những năm gần đây nhƣ: lạm phát thất thƣờng, thị trƣờng bất động sản “vỡ bong bóng” và đóng băng, các khó khăn của hệ thống thanh khoản của ngân hàng, thị trƣờng chứng khoán khiến những ai quan tâm nhiều phen đứng tim, và một điều quan trọng là tình hình lãi suất biến động không ngừng.
Trong những năm vừa qua, tình hình lãi suất thị trƣờng biến động vô cùng phức tạp. Điều này đặt ra cho các ngân hàng thƣơng mại một bài toán rất khó khăn về việc quản lý rủi ro lãi suất. Ngân hàng là một trung gian tài chính, là nơi chuyển giao giữa ngƣời mua và ngƣời bán vốn, nên hoạt động của ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do trình độ quản trị của nhiều ngân hàng TMCP có quy mô nhỏ không theo kịp với đà tăng tài sản nên dẫn đến việc chất lƣợng tín dụng của các ngân hàng này kém.
Một lý do khác khiến cho chất lƣợng tín dụng ở các ngân hàng này kém là vì chúng thƣờng là “sân sau” của các tập đoàn, cả nhà nƣớc lẫn tƣ nhân, vì để tăng vốn chủ sở hữu lớn nhƣ vậy các ngân hàng này buộc phải dựa vào vốn đóng góp của chính các tập đoàn này. Tuy nhiên, việc thay đổi về cơ cấu kinh tế đòi hỏi một chiến lƣợc dài hạn trong khi ngắn hạn, nền kinh tế đang cần ngay những giải pháp tức thời để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 bình ổn. Chính vì vậy, mục tiêu trƣớc mắt trong giai đoạn hiện nay của Chính phủ là phải tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, phá băng cho thị trƣờng bất động sản, giải quyết nợ xấu, bình ổn thị trƣờng tài chính và tìm ra một cơ cấu lãi suất thích hợp để giúp nền kinh tế tránh rơi vào trạng thái giảm tăng trƣởng và đình đốn. 2) Phát biểu vấn đề Ta có thể xem lãi suất là một biến số nhạy cảm đối với sự biến động của nền kinh tế.
Nó tác động trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh tế, ảnh hƣởng rất lớn đến lợi nhuận của các nhà kinh doanh tài chính nói chung và các ngân hàng TMCP nói riêng. Nó cũng quyết định hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lãi suất là một công cụ có tầm quan trọng rất lớn đối với việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô, nhƣng đồng thời nó cũng là con dao hai lƣỡi. Nếu muốn điều hành nền kinh tế hay hoạt động kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi phải nghiên cứu, nắm bắt kỹ lƣỡng lãi suất nếu không nó sẽ đem lại những kết quả nằm ngoài dự kiến.
Việc quản lý rủi ro lãi suất là việc rất cần thiết cho doanh nghiệp và các ngân hàng TMCP. Để có thể hiểu thêm việc quản lý rủi ro lãi suất tôi quyết định chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất tại Ngân Hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. 3) Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tập trung vào việc hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. Luận văn tập trung vào những vấn đề sau: Đánh giá thực trạng quản lý rủi ro lãi suất tại ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam.
Những hạn chế và nguyên nhân tồn tại của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 việc quản lý rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. Đề nghị một số giải pháp và kiến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro lãi suất lại Ngân hàng Thƣơng Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. 4) Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Rủi ro lãi suất trong việc kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam. Các mô hình lƣợng hóa và các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất.
Đối tƣợng nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam. 5) Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng những công cụ nhƣ: thống kê mô tả, thống kê phân tích, suy luận logic, tổng hợp và so sánh số liệu. 6) Kết cấu luận văn Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT VÀ QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM. Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT VÀ QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về lãi suất 1.1 Khái niệm lãi suất Lãi suất hay còn gọi là giá cả của tín dụng. Đó là giá cả của quyền đƣợc sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà ngƣời sử dụng trả cho ngƣời sở hữu nó. Lãi suất là một trong những đòn bẩy quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng. Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
Tăng hay giảm lãi suất cho vay sẽ ảnh hƣởng đến lƣợng vốn của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, sẽ ảnh hƣởng đến việc thu hẹp hay mở rộng sản xuất, đầu tƣ. Các quyết định này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến tốc độ tăng trƣởng và tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội. Lãi suất phản ánh việc sử dụng tiền của ngƣời khác nên việc xác định mức lãi suất đƣợc hƣởng là mối quan tâm hàng đầu khi thực hiện việc ra quyết định cấp hay nhận các khoản tín dụng.2 Bản chất của lãi suất Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp và đa dạng.
Lãi suất chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, và còn có tác động đến sự phát triển của nền kinh tế nên nó mang tính chất tổng hợp. Mặt khác, lãi suất đa dạng do sự xuất phát từ nhiều loại tín dụng khác nhau của nền kinh tế: lãi suất chiết khấu; tái chiết khấu; lãi suất trái khoán công ty; lãi suất cho vay;…với những cách thức đo lƣờng khác nhau. Và sự biến động của lãi suất chịu ảnh hƣởng của quan hệ cung cầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nhà kinh tế học ngƣời Pháp A.Poial khẳng định “Lãi suất là công cụ tích cực trong phát triển kinh tế và đồng thời cũng là công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại trong việc sử dụng chúng”.
Khi bàn về bản chất của lãi suất, ngƣời ta thƣờng đề cập đến quan niệm của Mác: Thông qua hình thức biểu hiện, lãi suất là giá cả của vốn cho vay nhƣ một loại hàng hóa, giá cả của hàng hóa biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa còn giá cả của vốn cho vay biểu hiện trực tiếp bằng lãi suất. Nhƣ vậy, lợi tức tín dụng là một phần của giá trị thặng dƣ mà nhà tƣ bản sản xuất phân chia cho nhà tƣ bản tài chính dƣới hình thức giá cả vốn cho vay nhằm chuyển dịch vốn tiền tệ sang hàng hóa trong thời gian cho vay. Nhƣ là một hình thái đặc biệt của lợi nhuận, lợi tức tín dụng có một độ lớn nào đó và độ lớn này đƣợc biểu hiện thông qua tỷ lệ % mà ngƣời ta quen gọi là lãi suất. Lãi suất đƣợc hình thành từ tỷ suất lợi nhuận của nhà sản xuất và trong mối quan hệ tỷ lệ với sự phân chia tổng số lợi nhuận giữa ngƣời vay và ngƣời cho vay.
Vì vậy lãi suất có thể mở rộng đến một giới hạn tối đa gần bằng với tỷ suất lợi nhuận bình quân của nhà sản xuất hoặc đến một giới hạn tối thiểu mà nhà tƣ bản cho vay có thể chấp nhận. Nguồn gốc của lãi suất là giá trị thặng dƣ, lãi suất là giá trị của quyền sử dụng vốn. Theo quan điểm của P.Samuelson và David Begg thì "Lãi suất là giá cả của việc sử dụng một số tiền vay trong một thời gian nhất định". Theo quan điểm của nhà kinh tế học David S.Kidwell thì "Lãi suất là giá cả của sự thuê tiền, là giá cả của sự vay tiền cho quyền sử dụng sức mua và thƣờng đƣợc biểu hiện bằng một tỷ lệ % của số tiền vay".
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Phân loại lãi suất 1.1 Phân loại theo nguồn vốn sử dụng trong ngân hàng sẽ bao gồm: lãi suất huy động và lãi suất cho vay Lãi suất huy động vốn (lãi suất tiền gửi): Lãi suất tiền gửi là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi. Nó đƣợc áp dụng để tính lãi phải trả cho ngƣời gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào thời hạn gửi tiền, vào qui mô tiền gửi. Lãi suất cho vay vốn (lãi suất cho vay): Lãi suất cho vay là lãi suất mà ngƣời đi vay phải trả cho ngân hàng do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng.
Nó đƣợc áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng phải trả ngân hàng. Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân, và có sự phân biệt giữa các khoản vay với thời hạn khác nhau cũng nhƣ mức rủi ro khác nhau.2 Phân loại theo giá trị thực: lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chƣa trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thƣờng đƣợc thông báo chính thức trong các quan hệ tín dụng. Lãi suất thực tế: là lãi suất đƣợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát.
Hay nói cách khác là lãi suất để loại trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất thực có 2 loại: * Lãi suất thực trƣớc: là lãi suất thực đƣợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dự tính về lạm phát.