Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1- Tổng quan về hệ thống điện Việt Nam Hệ thống điện (HTĐ) là một hệ thống bao gồm các nhà máy điện, các trạm biến áp, các đường dây tải điện, các trạm phân phối, và các phần tử khác được nối liền với nhau thành hệ thống như trình bày tại Error! Reference source not found. Nhiệm vụ cơ bản của HTĐ là sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng đáp ứng nhu cầu của phụ tải (số lượng, chất lượng và độ tin cậy) với giá thành thấp nhất.1 Mô hình hệ thống điện cơ bản Từ năm 1954, điện mới được sử dụng rộng rãi hơn và trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Thời kỳ 1961- 1965, ở miền Bắc công suất đặt tăng bình quân 20% hàng năm. Cùng với một số nhà máy điện được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các nước XHCN mạng lưới điện 35 kV, rồi 110 kV đã được xây dựng, nối liền các nhà máy điện và các trung tâm phụ tải, hình thành nên HTĐ non trẻ của Việt Nam.
Thời kỳ 10 năm (1955 - 1965), ở miền Bắc, mức tăng công suất đặt trung -2- bình là 15%. Trong giai đoạn (1966 - 1975) do chiến tranh phá hoại ác liệt nên mức tăng công suất đặt bình quân chỉ đạt 2,6%/năm. Giai đoạn 1975 - 1994, HTĐ được phát triển mạnh với việc đưa vào vận hành một số nhà máy lớn với công nghệ tiên tiến như Nhiệt điện Phả Lại (440 MW), Thuỷ điện Trị An (420 MW) và đặc biệt là Thuỷ điện Hoà Bình (1920 MW). và đồng bộ với các nguồn phát điện, hệ thống lưới điện được phát triển rộng khắp cả nước trên cơ sở đường trục là lưới điện 220kV.
Năm 1994, việc đưa vào vận hành Hệ thống truyền tải 500 kV đã đánh dấu một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử phát triển của HTĐ Việt Nam. Từ đây, Việt Nam đã có một HTĐ thống nhất trong toàn quốc, làm tiền đề cho một loạt các công trình mới với công nghệ hiện đại được đưa vào vận hành sau này. Năm 1995, Thực hiện chủ trương cải cách cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở quyết định 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, Tổng công ty Điện lực Việt Nam đã ra đời, với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh điện trong phạm vi toàn quốc. Đây là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi sâu sắc về tổ chức quản lý, nâng cao tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh, tạo tiền đề cho sự phát triển ngành điện Việt Nam mạnh mẽ, năng động.
Và đến cuối năm 2004 tổng công suất đặt của toàn quốc là 11.340 MW, tăng trên 100 lần so với năm 1954. Về sản lượng điện tăng gấp gần 900 lần so với năm 1954. Hệ thống lưới điện truyền tải và phân phối đã trải rộng khắp mọi miền Tổ quốc. Về chỉ tiêu điện năng tính trên đầu người, thì năm 1965 đạt 30 kWh/người-năm, năm 1975: 56,2 kWh/đầu người-năm; năm 1980 đạt 67,7 kWh/đầu người-năm; năm 1985 đạt 84 kWh/đầu người-năm; năm 1995, điện bình quân một người là 198 kWh/người- năm, thì đến năm 2005 đã đạt trên 500 kWh/người-năm.
Nhưng đến năm 2010 thì chỉ là 12.200 MW chỉ tăng 1,08 lần so với năm 2004 và điện bình quân một người 990kWh/người-năm tăng 440 kWh so với năm 2004. Kế hoạch phát triển của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam trước đây nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đến năm 2010 là thách thức lớn cho EVN trong việc quản lý hiệu quả hệ thống lưới Điện hiện tại, vừa phải mở rộng phát triển. Trong vòng 5 năm tới, EVN dự tính sẽ xây lắp thêm 280.000 km đường dây Điện phân phối, -3- 14.000 km Truyền tải, 5.000 trạm biến áp mới; tăng gấp đôi số lượng thiết bị Viễn thông, nhằm đáp ứng được việc tăng 360% nhu cầu phụ tải trong nước. Tốc độ tăng trưởng này đưa ra nhu cầu thông tin cấp bách về công tác vận hành hệ thống Điện hiện có, và về các dự án mới đối với các nhà quản lý của EVN.
Tự động hóa thông tin sẽ cóy mạnh công suất các nhà máy điện, nâng cao độ chính xác, và giảm thiểu nhân công trong các quy trình. EVN đã cam kết thực hiện những dự án cung cấp thông tin cho việc đưa ra các quyết định tốt hơn. Những dự án này bao gồm: Hệ thống Thông tin Quản lý Tài chính (FMIS), Hệ thống Thông tin chăm sóc Khách hàng (CCIS), Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) và triển khai áp dụng các phần mềm phân tích tính toán lưới điện.2- Tổng quan về lưới điện phân phối 1.1- Sự phát triển của lưới điện phân phối Phân phối điện là khâu cuối cùng của hệ thống điện đưa điện năng trực tiếp đến người tiêu dùng. Lưới điện phân phối bao gồm lưới điện trung áp và lưới điện hạ áp.
Tính đến cuối năm 2004, tổng chiều dài đường dây trung áp bằng khoảng 115 nghìn km, tổng chiều dài đường dây hạ áp gần 110 nghìn km, tổng dung lượng các trạm biến áp hạ áp gần 29 nghìn MVA. Lưới điện phân phối do 3 công ty điện lực miền, 2 công ty điện lực thành phố và 3 công ty điện lực tỉnh quản lý. Đến tháng 6 năm 2005, lưới điện phân phối đã cung cấp điện cho 525 huyện trong tổng số 536 huyện trên 64 tỉnh thành phố. Nếu tính theo số xã, có 8689 xã trong tổng số 9024 xã trên cả nước có điện.
Các xã, huyện còn lại chưa có điện lưới Quốc gia hiện đang sử dụng nguồn điện tại chỗ là thuỷ điện nhỏ hoặc máy phát điện diesel. Chương trình điện nông thôn của Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát triển lưới điện phân phối, đảm bảo 100% số xã, huyện được cấp điện. Cùng với Tổng sơ đồ phát triển điện lực VI được phê duyệt là kế hoạch cải tạo và phát triển lưới điện trung áp. Khối lượng lưới điện phân phối dự kiến xây dựng đến năm 2020 sẽ bao gồm hơn 120.000 km đường dây trung áp, gần 85.000 MVA trạm phân phối và gần 93.000 km đường dây hạ áp.
Khối lượng dự kiến cải tạo và xây dựng sẽ tương đương với khối -4- lượng lưới phân phối hiện hữu. Với lưới điện phân phối có quy mô gấp đôi hiện tại, các công ty Điện lực và các Điện lực tỉnh, thành phố sẽ phải đối diện với những khó khăn nhất định trong công tác quản lý đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Do vậy, việc đảm bảo và nâng cao năng lực quản lý là cần thiết và phải chú trọng ngay từ giai đoạn chuẩn bị hiện nay. Các vấn đề kỹ thuật của lưới điện phân phối trong đó có vấn đề giảm tổn thất điện năng vẫn sẽ là trọng tâm trong công tác điều hành quản lý.
Để giải quyết các khó khăn này, đồng thời nâng cao năng lực quản lý kỹ thuật trong đó có vấn đề giảm tổn thất điện năng, các Công ty Điện lực cần ứng dụng các biện pháp công nghệ hiện đại đang ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới.2- Một số đặc điểm của lưới điện phân phối Lưới điện phân phối có các đặc điểm về thiết kế và vận hành khác với lưới điện truyền tải. Lưới điện phân phối phân bố trên diện rộng, thường vận hành không đối xứng và có tổn thất lớn hơn. Kinh nghiệm các điện lực trên thế giới cho thấy tổn thất thấp nhất trên lưới phân phối vào khoảng 4%, trong khi trên lưới truyền tải là khoảng 2%. Vấn đề tổn thất trên lưới phân phối liên quan chặt chẽ đến các vấn đề kỹ thuật của lưới điện từ giai đoạn thiết kế đến vận hành.
Do đó trên cơ sở các số liệu về tổn thất có thể đánh giá sơ bộ chất lượng vận hành của lưới điện phân phối. Trong những năm gần đây, lưới điện phân phối của nước ta phát triển mạnh, các Công ty Điện lực cũng được phân cấp mạnh về quản lý. Chất lượng vận hành của lưới phân phối được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ tổn thất điện năng giảm mạnh. Tỷ lệ tổn thất trên lưới phân phối từ mức cao nhất tại Công ty Điện lực 2 năm 2000 bằng 12% đến năm 2004 chỉ còn 9,4%.
Mặc dù tỷ lệ tổn thất trên lưới điện phân phối đã giảm đáng kể trong thời gian qua,nhưng mức giảm tổn thất này vẫn còn rất khiêm tốn. Chính phủ có quyết định yêu cầu EVN giảm mức tổn thất trên toàn lưới điện (bao gồm cả lưới truyền tải) xuống mức 11% vào năm 2006 và 9% vào năm 2010. Thực tế trong 6 tháng đầu năm 2007, mức tổn thất điện năng của EVN là 11,43%, cao hơn kế hoạch là 0,93%. Như vậy vẫn còn nhiều biện pháp đồng bộ cần thực hiện để đạt được mục tiêu giảm tổn thất trên lưới điện.
Phân tích các biện pháp giảm tổn thất điện năng cho thấy nếu thực hiện tốt, tổn thất điện năng trên lưới phân phối có thể hạ thấp đáng kể. Chẳng -5- hạn như trường hợp Điện lực Thủ Đức, năm 2003 tỷ lệ tổn thất vào khoảng 5%, năm 2004 tỷ lệ giảm xuống còn 4,79%, đến năm 2005 là 4,32% và năm 2006 giảm xuống mức 4,15%.3- Tổng quan về Điện lực Thành phố Cần Thơ Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long, là Thành phố đầu mối giao thông, giao thương của các tỉnh trong vùng với hệ thống đường bộ, đường sông, đường biển và đường hàng không thuận lợi, nối liền với cả nước. Với vị trí quan trọng, Thành phố Cần Thơ đã phát triển kinh tế theo cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ phát triển của vùng kinh tế trọng điểm. Điện lực Thành phố Cần Thơ, có nhiều bước đi vững chắc, đã liên tục phát triển nguồn điện, lưới điện, cung cấp điện an toàn, liên tục góp phần tăng trưởng kinh tế, xã hội của Thành phố Cần Thơ và hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh do Công ty Điện lực 2 giao.
Sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng tăng, kéo theo nhu cầu sử dụng điện ngày càng lớn. Song song với sự phát triển về kinh tế, nguồn và lưới điện của Điện lực Thành phố Cần Thơ đã kịp thời phát triển để cung cấp điện cho các khách hàng sản xuất tại các khu công nghiệp, các dự án do Trung ương, địa phương đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, giao thông, chế biến và dịch vụ, cung cấp điện ánh sáng sinh hoạt đến tận hộ nhân dân. Sản lượng điện thương phẩm đạt vượt mức kế hoạch giao, tốc độ phát triển phụ tải cung cấp điện Thành phố Cần Thơ tăng hàng năm từ 12 --> 17%.