Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chất thải nhựa (RTN) và túi nilon đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng mang tính toàn cầu. Do đặc tính bền vững của các liên kết polyme tổng hợp nhân tạo, các sản phẩm nhựa cần khoảng thời gian từ 450 đến 1.000 năm mới có thể phân hủy hoàn toàn trong môi trường tự nhiên. Sự gia tăng nhanh chóng của quy mô sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nhựa dùng một lần đã dẫn đến lượng chất thải phát sinh khổng lồ, gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường đất, nguồn nước, không khí và hệ sinh thái.
Tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa và sự thay đổi trong thói quen sinh hoạt đã khiến lượng tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tăng mạnh từ 3,8 kg/năm (năm 1990) lên 41,3 kg/năm (năm 2018). Trung bình mỗi hộ gia đình tiêu thụ khoảng 1 kg túi nilon mỗi tháng (tương đương 223 túi nilon/tháng). Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước phát sinh khoảng 1,8 triệu tấn chất thải nhựa mỗi năm, trong đó lượng rác thải nhựa đổ ra biển dao động từ 0,28 đến 0,73 triệu tấn/năm, đưa Việt Nam vào vị trí thứ 4 trong danh sách các quốc gia có lượng chất thải nhựa xả ra biển nhiều nhất thế giới.
Thành phố Hòa Bình là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh miền núi Hòa Bình. Cùng với sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống, lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) nói chung và chất thải nhựa nói riêng trên địa bàn thành phố có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, hạ tầng kỹ thuật và công tác quản lý chất thải tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế: tỷ lệ phân loại rác tại nguồn rất thấp, thói quen vứt rác tùy tiện của người dân còn phổ biến, trang thiết bị thu gom thô sơ và thiếu đồng bộ, công nghệ xử lý chủ yếu là chôn lấp hở chưa hợp vệ sinh gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông Đà và cảnh quan đô thị. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu hiện trạng sử dụng chất thải nhựa trong sinh hoạt và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm và luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quản lý môi trường địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất được giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm 3 nội dung trọng tâm:
- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình.
- Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải nhựa phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của người dân tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung tại khu vực dân cư thuộc 6 phường nội thành của thành phố Hòa Bình, bao gồm: Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Tân Thịnh, Hữu Nghị và Thịnh Lang.
- Phạm vi nội dung: Khảo sát, đánh giá các khâu từ phát sinh, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển đến xử lý chất thải nhựa sinh hoạt; đồng thời khảo sát nhận thức cộng đồng và các yếu tố cản trở công tác quản lý.
- Thời gian nghiên cứu: Khóa luận được hoàn thành vào tháng 7 năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành về chất dẻo, chất thải nhựa và ô nhiễm nhựa:
- Định nghĩa: Nhựa là các hợp chất cao phân tử nhân tạo (polystyrene, polyester, polyethylene...), không có sẵn trong tự nhiên, sở hữu tính chất bền, nhẹ, cách điện, cách nhiệt tốt và giá thành rẻ. Khi bị thải bỏ, chúng trở thành chất thải nhựa khó phân hủy sinh học, có xu hướng vỡ vụn dưới tác động cơ học thành các hạt vi nhựa (microplastic có kích thước dưới 5 mm).
- Cơ chế tác động: Tài liệu tổng hợp các cơ chế ô nhiễm của phụ gia hóa dẻo (phthalate, bisphenol-A - BPA, hợp chất chống cháy brôm, chì, cadimi) gây độc tế bào, rối loạn nội tiết và ung thư; tác động sinh các khí độc dioxin và furan khi đốt nhựa không kiểm soát; cũng như hiện tượng cản trở lưu thông nước, phá hủy cấu trúc đất và xói mòn khi chôn lấp rác nhựa.
- Bài học quốc tế: Khóa luận tổng thuật kinh nghiệm quản lý chất thải nhựa từ các quốc gia phát triển và đang phát triển: hệ thống phân loại và tái chế nghiêm ngặt của Nhật Bản (tái chế 20,8% CTR, biến vỏ chai PET thành sợi dệt); mô hình biến rác thành năng lượng tại Singapore; chính sách đổi chai nhựa lấy vé xe buýt tại Surabaya (Indonesia); chính sách tính phí túi nilon và đổi vỏ chai lấy vé tàu điện ngầm tại Trung Quốc; hệ thống máy thu gom tự động hoàn tiền/đổi vé xe tại Úc và Na Uy (97% chai nhựa được tái chế); hệ thống luật pháp cấm đồ nhựa dùng một lần tại Hàn Quốc (Luật thúc đẩy tiết kiệm và tái chế tài nguyên 1994, Luật Quản lý môi trường biển 2009).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy, khảo sát hiện trường và điều tra xã hội học:
- Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập và xử lý các tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hòa Bình; báo cáo hiện trạng quản lý chất thải rắn của UBND thành phố Hòa Bình, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình, Hiệp hội Nhựa Việt Nam, các tổ chức quốc tế (WHO, UNEP, EPA, FAO) và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành quan sát, ghi nhận thực tế tại 6 phường nghiên cứu về hệ thống điểm tập kết rác (vị trí, diện tích, khoảng cách); mật độ và chủng loại thùng rác công cộng (loại 60 lít và 80 lít, có ngăn phân loại hay không); phương tiện thu gom (xe đẩy tay, xe cải tiến, xe ép rác chuyên dụng); tần suất vận chuyển; hiện trạng bãi chôn lấp rác Lương Sơn và bãi rác dốc Búng (phường Tân Hòa).
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi:
- Cỡ mẫu: Tổng số 330 phiếu điều tra, phân bổ đồng đều tại 6 phường (mỗi phường 55 phiếu).
- Cơ cấu đối tượng điều tra trên mỗi phường: 41 hộ gia đình, 10 cơ sở kinh doanh (quán chè, cháo dinh dưỡng, trà chanh, quán nước, đồ ăn nhanh, tiệm tạp hóa), 2 người thu mua phế liệu và 2 cán bộ quản lý môi trường.
- Kỹ thuật chọn mẫu: Nhóm hộ gia đình được chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên danh sách số nhà thông qua hàm ngẫu nhiên của phần mềm Microsoft Excel; nhóm hộ kinh doanh chọn mẫu có chủ đích vào các đơn vị sử dụng nhiều đồ nhựa dùng một lần; nhóm người thu gom phế liệu và cán bộ quản lý áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
- Nội dung phiếu khảo sát: Thu thập thông tin về khối lượng phát sinh, thành phần rác nhựa, thói quen phân loại, phương thức xả thải, nhận thức về tác hại sinh thái - sức khỏe, đánh giá công tác quản lý và mức độ sẵn sàng chuyển đổi sang các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất thải nhựa, các nguồn phát sinh, cơ chế phân rã tạo thành vi nhựa và tác động tiêu cực đa chiều đến môi trường đất (làm mất kết cấu đất, giảm khả năng giữ nước, cản trở oxy), môi trường nước (gây tắc nghẽn dòng chảy, ngập lụt, ô nhiễm thủy vực), không khí (phát thải dioxin, furan gây hiệu ứng nhà kính khi đốt hở) và sức khỏe con người (xâm nhập qua hàng rào máu não, nhau thai, thôi nhiễm BPA và kim loại nặng).
Về thực trạng toàn cầu, số liệu tổng hợp cho thấy lũy kế đến năm 2015 thế giới đã sản xuất 8,3 tỷ tấn nhựa, nhưng chỉ có 9% được tái chế, 12% thiêu đốt và 79% bị chôn lấp hoặc xả thẳng ra môi trường tự nhiên; mỗi năm phát sinh khoảng 300 triệu tấn rác nhựa, trong đó 13 triệu tấn đổ ra các đại dương gây thiệt hại sinh thái ước tính 13 tỷ USD/năm. Tại Việt Nam, lượng tiêu thụ nhựa tăng trưởng mạnh, phát sinh 1,8 triệu tấn rác nhựa/năm; tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM phát sinh khoảng 80 tấn nhựa và nilon mỗi ngày. Tỷ lệ xử lý rác nhựa tại Việt Nam còn rất lạc hậu khi có tới 90% lượng rác được xử lý bằng hình thức chôn lấp và thiêu đốt, chỉ 10% được tái chế. Trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, tổng lượng CTRSH đô thị phát sinh khoảng 127,043 tấn/ngày đêm (thu gom đạt 109,257 tấn/ngày đêm); khu vực nông thôn phát sinh 379,571 tấn/ngày đêm nhưng tỷ lệ thu gom chỉ đạt 31% (117,667 tấn/ngày đêm) và mới chỉ có 73/191 xã triển khai được hoạt động thu gom rác.
Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương 2 quy định chi tiết khung nghiên cứu của khóa luận:
- Xác lập 2 mục tiêu cụ thể và 3 nội dung nghiên cứu gắn liền với việc khảo sát hiện trạng phát sinh, thực trạng quản lý và xây dựng giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa sinh hoạt.
- Khoanh vùng không gian nghiên cứu tại 6 phường nội thị thuộc thành phố Hòa Bình: Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Tân Thịnh, Hữu Nghị, Thịnh Lang.
- Xây dựng thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực địa hạ tầng kỹ thuật và điều tra bảng hỏi xã hội học với quy mô 330 phiếu khảo sát đại diện cho 4 nhóm đối tượng chính (hộ gia đình, hộ kinh doanh, người thu mua phế liệu, cán bộ quản lý), đồng thời trình bày cụ thể quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên bằng phần mềm tin học.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hòa Bình:
- Điều kiện tự nhiên: Tọa độ địa lý từ 20°30’ đến 20°50’ vĩ độ Bắc và 105°15’ đến 105°25’ kinh độ Đông, cách Hà Nội 76 km. Địa hình đồi núi chiếm 75% diện tích tự nhiên bao quanh thung lũng trung tâm bằng phẳng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 25°C, lượng mưa trung bình 1.860 mm tập trung vào các tháng 7, 8, 9. Tài nguyên nước dồi dào với sông Đà chảy qua thành phố dài 23 km, hồ thủy điện Hòa Bình dung tích 9,5 tỷ m³, giữ vai trò điều tiết lũ và cấp nước cho vùng hạ du.
- Cơ cấu hành chính và dân số: Thành phố gồm 15 đơn vị hành chính (8 phường, 7 xã). Tổng dân số tính đến hết tháng 12/2018 là 101.000 người, mật độ 704 người/km². Quy mô dân số và diện tích của 6 phường nghiên cứu lần lượt là: Phương Lâm (10.517 người; 3,3 km²), Đồng Tiến (10.712 người; 2,07 km²), Tân Thịnh (8.606 người; 3,92 km²), Hữu Nghị (9.315 người; 3,55 km²), Thịnh Lang (4.534 người; 2,88 km²), Chăm Mát (8.165 người; diện tích khoảng 2 km²). Tổng số nhân khẩu tại 6 phường nghiên cứu là 51.849 người.
- Kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao; năm 2019 tỷ trọng ngành dịch vụ đạt 56%, công nghiệp - xây dựng chiếm 39,7%, nông - lâm - thủy sản chiếm 4,3%; thu nhập bình quân đầu người đạt 63,5 triệu đồng/năm. Đời sống thương mại, du lịch và dịch vụ ăn uống phát triển là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng các sản phẩm nhựa bao bì và đồ dùng một lần.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện từ khảo sát thực địa và phân tích định lượng:
- Nguồn phát sinh và khối lượng: Chất thải nhựa tại 6 phường phát sinh chủ yếu từ khu dân cư, trường học, công sở, khu vực đường phố, hoạt động y tế và các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Tổng lượng rác thải nhựa phát sinh tại 6 phường đạt 738 kg/ngày (trung bình 123 kg/phường/ngày). Lượng phát sinh cao nhất tại phường Đồng Tiến (170 kg/ngày) do tập trung đông dân cư và hoạt động thương mại sầm uất; thấp nhất tại phường Tân Thịnh (68 kg/ngày). Suất phát thải rác nhựa bình quân đầu người đạt 14,23 g/người/ngày.
- Thành phần rác thải nhựa: Túi nilon chiếm tỷ trọng áp đảo với 55% ý kiến lựa chọn là loại rác thải ra nhiều nhất trong ngày, kế tiếp là chai nhựa (16%), cốc nhựa (11,4%), ống hút nhựa (6,9%), hộp xốp (5,7%) và các sản phẩm khác (5,3%). Khảo sát 60 hộ kinh doanh cho thấy túi nilon chiếm trên 67% tổng lượng sản phẩm nhựa dùng một lần bán ra/sử dụng, với mức tiêu thụ trung bình xấp xỉ 3 kg túi/ngày/hộ.
- Thực trạng phân loại và xả rác: 51% số hộ gia đình tham gia khảo sát có thực hiện phân loại rác thải nhựa để bán cho người thu mua phế liệu (trong đó 36% phân loại thường xuyên, 64% thỉnh thoảng mới phân loại), 49% hoàn toàn không phân loại. Các loại nhựa mỏng, túi nilon bẩn không bán được đều bị xả lẫn vào rác sinh hoạt. Về hình thức xả rác, 55% người dân đem rác đến điểm tập kết thu gom, 43% xả ra bãi rác chung của khu vực, dưới 2% tự xử lý bằng cách đốt hoặc đổ vào hố trong vườn.
- Thực trạng thu gom, vận chuyển và xử lý: Thành phố chưa có hệ thống thu gom và xử lý riêng biệt cho chất thải nhựa. Mạng lưới thu gom phế liệu tư nhân gồm 12 cá nhân được phỏng vấn thu mua trung bình 35 kg nhựa/người/ngày, nhưng chỉ tập trung vào chai nhựa cứng (chiếm 67% cơ cấu thu mua) và cốc nhựa, hoàn toàn bỏ qua túi nilon do giá trị kinh tế thấp. Hệ thống công cộng chỉ có khoảng 25 thùng rác (loại 60L và 80L) đặt rải rác tại các điểm du lịch; các tuyến đường chính như đường 353 và công viên không có thùng rác. Đơn vị dịch vụ là Công ty CP Môi trường đô thị Hòa Bình thực hiện thu gom đưa về trạm tập kết Thịnh Lang với tần suất 2 ngày/lần đối với hộ gia đình, 1 tuần/2 lần đối với khu công nghiệp và 2 lần/ngày đối với nhà hàng, khách sạn. Rác thải sau đó được vận chuyển bằng xe ép chuyên dụng về bãi rác Lương Sơn do Chi nhánh Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Hoàng Long vận hành (thay thế cho bãi rác dốc Búng tại phường Tân Hòa đã quá tải). Bãi Lương Sơn tiếp nhận trên 55 tấn CTR/ngày đêm từ thành phố, hiện tồn đọng khoảng 150.000 tấn rác chôn lấp thủ công, không có màng chống thấm đáy, không phủ đất định kỳ, nước rỉ rác chưa qua xử lý chảy thẳng ra lưu vực sông Đà và khí thải chỉ được xử lý sơ sài bằng chế phẩm vi sinh EM.
- Nhận thức cộng đồng và giải pháp thay thế: 58% người được hỏi không nhận thức được tác hại của chất thải nhựa đối với sức khỏe và môi trường; đáng chú ý có tới 42% cán bộ quản lý môi trường được phỏng vấn trả lời không biết rõ tác hại này. Về định hướng thay thế, gần 100% đối tượng điều tra (100% cán bộ, người thu gom, hộ gia đình và 97% hộ kinh doanh) ủng hộ việc sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế đồ nhựa dùng một lần. Trong đó, tiêu chí quan trọng nhất được 66% người tham gia khảo sát lựa chọn là "Giá thành phải rẻ hơn hoặc bằng sản phẩm nhựa dùng một lần".
- Đề xuất giải pháp: Khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý gồm: (1) Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, đặc biệt trong hệ thống trường học (bỏ bọc sách vở bằng bìa nilon, tổ chức phong trào đổi phế liệu lấy cây); (2) Thúc đẩy chuyển đổi sang sản phẩm thân thiện (túi vải, ống hút tre/giấy, bao gói bằng lá tự nhiên); (3) Triển khai phân loại rác tại nguồn gắn với việc cấp phát túi chuyên dụng và ban hành chế tài xử phạt; (4) Cải thiện hệ thống thu gom, đổi mới phương tiện vận chuyển và đẩy nhanh tiến độ công nghệ tái chế; (5) Hoàn thiện cơ chế chính sách, có chính sách trợ giá cho doanh nghiệp sản xuất sản phẩm sinh thái thay thế.
Chương 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Chương cuối cùng tổng kết các kết quả đạt được về mặt định lượng của đề tài; chỉ ra những điểm nghẽn trong công tác quản lý chất thải nhựa tại thành phố Hòa Bình (chưa có quy chế quản lý riêng cho rác nhựa, hạ tầng xử lý quá tải, nhận thức của cả người dân và cán bộ còn hạn chế). Đồng thời, tác giả kiến nghị chính quyền địa phương sớm ban hành các văn bản hướng dẫn phân loại chất thải tại nguồn, quy hoạch lại các điểm tập kết rác hợp vệ sinh, đầu tư công nghệ xử lý nước rỉ rác tại bãi rác Lương Sơn và có cơ chế hỗ trợ tài chính cho các mô hình sản phẩm thay thế túi nilon.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu định lượng về phát sinh và hành vi phân loại rác thải nhựa tại 6 phường khảo sát thông qua bảng tổng hợp sau:
| STT |
Tên phường |
Số nhân khẩu (người) |
Lượng RTN phát sinh (kg/ngày) |
Tỷ lệ hộ có phân loại RTN (%) |
Tỷ lệ hộ không phân loại RTN (%) |
| 1 |
Phương Lâm |
10.517 |
125 |
70,0 |
30,0 |
| 2 |
Đồng Tiến |
10.712 |
170 |
53,4 |
46,6 |
| 3 |
Tân Thịnh |
8.606 |
68 |
73,9 |
26,1 |
| 4 |
Hữu Nghị |
9.315 |
125 |
29,8 |
70,2 |
| 5 |
Thịnh Lang |
4.534 |
130 |
9,25 |
90,75 |
| 6 |
Chăm Mát |
8.165 |
120 |
73,9 |
26,1 |
| Tổng / TB |
6 phường |
51.849 |
738 |
51,0 |
49,0 |
Ghi chú: Lượng phát thải chất thải nhựa bình quân đầu người tại khu vực nghiên cứu đạt 14,23 g/người/ngày. Trong số 51% hộ gia đình có phân loại rác nhựa, chỉ có 36% thực hiện thường xuyên, 64% chỉ thực hiện thỉnh thoảng.
Thực trạng nhận thức về tác hại của chất thải nhựa giữa các nhóm đối tượng được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| STT |
Đối tượng khảo sát |
Tổng số mẫu điều tra (phiếu) |
Tỷ lệ nhận thức có biết (%) |
Tỷ lệ không biết (%) |
| 1 |
Hộ gia đình |
246 |
45,0 |
55,0 |
| 2 |
Người thu mua phế liệu |
12 |
42,0 |
58,0 |
| 3 |
Hộ kinh doanh dịch vụ |
60 |
23,0 |
77,0 |
| 4 |
Cán bộ quản lý môi trường |
12 |
58,0 |
42,0 |
| Trung bình |
Toàn bộ đối tượng |
330 |
42,0 |
58,0 |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Tuyên truyền sâu rộng tác hại của túi nilon và nhựa dùng một lần; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào trường học, bãi bỏ quy định bắt buộc bọc vở bằng nilon; phát động phong trào thu gom phế liệu đổi lấy cây xanh.
- Giải pháp kỹ thuật và thu gom: Bổ sung thùng rác công cộng có ngăn phân loại tại các khu vui chơi, công viên và tuyến đường chính; đầu tư thay mới phương tiện xe ép rác chuyên dụng nhằm khắc phục tình trạng rò rỉ nước rác ra đường phố; chấm dứt tình trạng chôn lấp hở tại bãi rác Lương Sơn, bổ sung lớp chống thấm đáy và hệ thống xử lý nước rỉ rác đạt chuẩn.
- Giải pháp phân loại tại nguồn và tái chế: Thiết lập quy trình phân loại rác bắt buộc tại hộ gia đình; cung cấp bao bì phân loại chuyên dụng; kết nối và hỗ trợ hệ thống thu mua đồng nát tư nhân để thu hồi triệt để chai nhựa, túi nilon sạch.
- Cơ chế, chính sách: Đề xuất UBND thành phố ban hành quy chế quản lý riêng đối với chất thải nhựa sinh hoạt; đưa ra chế tài xử phạt hành vi xả rác bừa bãi; áp dụng chính sách trợ giá hoặc ưu đãi thuế cho các cơ sở sản xuất bao bì thân thiện môi trường nhằm hạ giá thành sản phẩm thay thế bằng hoặc thấp hơn túi nilon thông thường.
Đóng góp mới của khóa luận
Khóa luận đã xác lập bộ dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về chỉ số phát thải chất thải nhựa sinh hoạt bình quân đầu người (14,23 g/người/ngày) và cấu trúc thành phần rác thải nhựa tại 6 phường nội thị thành phố Hòa Bình. Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý trong chuỗi quản lý chất thải tại địa phương: túi nilon là thành phần phát sinh lớn nhất (55%) nhưng lại hoàn toàn bị người thu gom phế liệu bỏ qua (tập trung 67% vào chai nhựa), dẫn đến việc túi nilon bị thải bỏ toàn bộ ra môi trường. Đồng thời, nghiên cứu phát hiện rào cản mang tính quyết định đối với hành vi tiêu dùng xanh không nằm ở nhận thức thuần túy mà phụ thuộc chặt chẽ vào giá thành sản phẩm (66% người dân yêu cầu giá sản phẩm sinh thái phải rẻ hơn hoặc bằng nhựa dùng một lần), cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho việc ban hành chính sách quản lý môi trường đô thị miền núi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Tác giả tự đánh giá do giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu thực tế, phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung tại 6 phường trung tâm, chưa mở rộng ra 7 xã ngoại thành nông thôn của thành phố Hòa Bình - nơi có tỷ lệ thu gom rác rất thấp (chỉ khoảng 31%).
- Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát xã hội học và ước lượng cảm quan từ hiện trường, chưa tiến hành lấy mẫu phân tích hóa lý chuyên sâu đối với mức độ thôi nhiễm vi nhựa, chất lượng nước rỉ rác hoặc thành phần khí thải phát sinh tại bãi rác Lương Sơn và sông Đà.
- Mẫu khảo sát đối với cán bộ quản lý (12 người) và người thu gom phế liệu (12 người) được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện nên mang tính đại diện cục bộ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu ra toàn bộ các xã vùng ven và khu vực nông thôn của thành phố Hòa Bình nhằm xây dựng bức tranh tổng thể về dòng chất thải rắn sinh hoạt toàn địa bàn.
- Thực hiện các phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm nhằm định lượng cụ thể nồng độ các chất ô nhiễm độc hại (kim loại nặng, dioxin, furan) và mật độ vi nhựa trong đất và nước mặt quanh bãi chôn lấp Lương Sơn.
- Xây dựng mô hình thử nghiệm thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn kết hợp cơ chế tài chính/chế tài xử phạt tại một tổ dân phố hoặc phường điển hình để đánh giá tính khả thi trước khi nhân rộng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường và Quản lý Đô thị khi thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp về chất thải rắn sinh hoạt và ô nhiễm chất thải nhựa.
Tài liệu có giá trị đặc thù đối với các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, đặc biệt là Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hòa Bình, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Hòa Bình và các doanh nghiệp dịch vụ công ích môi trường đô thị. Các phần có giá trị thực tiễn cao bao gồm:
- Quy trình thiết kế công cụ điều tra xã hội học và phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo số nhà bằng phần mềm Excel để thu thập số liệu phát thải chất thải rắn.
- Bảng số liệu chi tiết về cơ cấu thành phần rác thải nhựa và các chỉ số định lượng về tỷ lệ phân loại rác tại từng phường.
- Các phát hiện về mối liên hệ giữa giá thành sản phẩm thay thế và mức độ sẵn sàng chuyển đổi của người dân, hỗ trợ công tác dự báo và xây dựng cơ chế trợ giá cho các sản phẩm bao bì sinh thái.
Câu hỏi thường gặp
Khối lượng phát sinh rác thải nhựa bình quân đầu người tại 6 phường nghiên cứu của thành phố Hòa Bình là bao nhiêu và tương quan thế nào với các địa phương khác?
Số liệu điều tra cho thấy lượng rác thải nhựa bình quân đầu người tại 6 phường nghiên cứu đạt 14,23 g/người/ngày. Mức phát thải này thấp hơn mức trung bình cả nước (15,95 g/người/ngày), thấp hơn TP.HCM (22,24 g/người/ngày) và TP Cần Thơ (17,24 g/người/ngày), nhưng cao hơn tỉnh Quảng Ninh (10,00 g/người/ngày).
Loại chất thải nhựa nào phát sinh nhiều nhất trong sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu và thực trạng thu gom loại rác này ra sao?
Túi nilon là loại rác nhựa phát sinh nhiều nhất, chiếm gần 55% lượng rác nhựa thải ra hàng ngày tại các hộ gia đình và chiếm hơn 67% sản phẩm nhựa dùng một lần bán ra tại các hộ kinh doanh. Tuy nhiên, hoạt động thu gom phế liệu tư nhân hầu như không thu gom túi nilon do giá trị kinh tế thấp mà chỉ tập trung vào chai nhựa cứng (chiếm 67% lượng thu mua). Do đó, phần lớn túi nilon bị vứt bừa bãi hoặc thu gom lẫn vào rác sinh hoạt để đưa đi chôn lấp.
Tỷ lệ phân loại chất thải nhựa tại các hộ gia đình ở 6 phường đạt mức nào và đâu là rào cản chính khiến việc phân loại chưa triệt để?
Khảo sát 246 hộ gia đình cho thấy có 51% số hộ có phân loại rác thải nhựa (chủ yếu tách riêng chai lọ để bán đồng nát), 49% không phân loại. Tuy nhiên, trong số hộ có phân loại thì có tới 64% chỉ thực hiện thỉnh thoảng, chỉ 36% làm thường xuyên. Nguyên nhân chính là do địa phương chưa có quy định bắt buộc và chế tài xử phạt, người dân chưa được cấp phát bao bì phân loại chuyên dụng, công tác tuyên truyền còn mang tính hì