Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM TRONG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 1. Nhập siêu và các khái niệm liên quan - Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá, dịch vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác. - Nhập khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá, dịch vụ của quốc gia này mua từ quốc gia khác. Quan hệ so sánh giá trị giữa kim ngạch (tổng giá trị hàng hoá) xuất khẩu với kim ngạch nhập khẩu của một nước trong từng thời kì (tháng, quý, năm,.) được gọi là cán cân xuất nhập khẩu (hay còn được gọi là cán cân thương mại).
Cán cân thương mại có ba trạng thái đó là: cân bằng (khi tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu bằng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu), thặng dư (khi tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu nhỏ hơn tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu) và thâm hụt (khi tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu lớn hơn tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu). Thâm hụt thương mại là cách gọi khác của nhập siêu. Theo cuốn “Từ điển Kinh tế học: Anh – Việt – Giải thích” của Nguyễn Văn Ngọc - Đại học Kinh tế quốc dân, “thâm hụt thương mại (trade deficit) là cán cân buôn bán bất lợi, nghĩa là sự thâm hụt trong cán cân thương mại xuất hiện khi giá trị xuất khẩu hữu hình (tức xuất khẩu hàng hóa) của một nước thấp hơn giá trị nhập khẩu hữu hình của nó” [15, tr. Theo cuốn “The Impact of Banking Policy on Trade and Global Stability” của chuyên gia kinh tế học Neil H.
Ashdown, thâm hụt thương mại là: “The trade deficit, occuring when a country imports more goods and services than it exports” được hiểu theo nghĩa Tiếng Việt là: “Thâm hụt thương mại, xảy ra khi một quốc gia nhập khẩu nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn so với xuất khẩu” [37, pg. 6 Theo cuốn “Trading Away our Future” của chuyên gia kinh tế học Raymond L.Richman và cộng sự, thâm hụt thương mại là: “A trade deficit occurs when a country buys more from abroad than it sells” được hiểu theo nghĩa Tiếng Việt là: “Thâm hụt thương mại xảy ra khi một quốc gia mua nhiều hơn từ nước ngoài hơn là bán” [33, pg. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm nhập siêu, còn theo tôi thì nhập siêu được hiểu chung nhất đó là khoản thiếu hụt của giá trị xuất khẩu hàng hóa so với giá trị nhập khẩu hàng hóa (tức là kim ngạch xuất khẩu thấp hơn kim ngạch nhập khẩu) của một nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường được tính theo năm). Hay nói cách khác, nhập siêu là khoản thiếu hụt cán cân thương mại hàng hóa của một nền kinh tế trong quan hệ trao đổi hàng hóa với phần còn lại của thế giới trong một khoảng thời gian xác định (thường tính theo năm).
Các yếu tố cơ bản tác động đến nhập siêu 1. Tác động từ các chính sách thương mại quốc tế; Các Hiệp định, tổ chức thương mại quốc tế Chính sách thương mại quốc tế đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển chung trong nền kinh tế của một quốc gia. Phạm vi của chính sách thương mại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói riêng bao hàm rất nhiều công cụ, biện pháp để can thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia. Trong đó có một số công cụ, biện pháp chủ yếu thường được sử dụng đó là: - Thuế quan, phi thuế quan, hạn ngạch thuế quan - Các thủ tục hành chính, rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật - Hạn ngạch nhập khẩu - Trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyện - Bán phá giá,.
Những cải cách thương mại quan trọng bao gồm: - Chính sách thương quyền (mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu) - Chính sách thuế quan và phi thuế quan - Chính sách trong Hiệp định thương mại khu vực, song phương, toàn cầu 7 Chính vì chính sách thương mại gắn liền, liên quan chặt chẽ đến chính sách quản lý nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu, do vậy, khi điều tiết chính sách thương mại sẽ ảnh hưởng đến tình trạng nhập siêu. Ở các quốc gia, chính sách thương mại thường được xây dựng theo hướng hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy hạn chế nhập khẩu chưa là biện pháp hiệu quả để cân đối cán cân thương mại mà nhập khẩu cạnh tranh mới là biện pháp hiệu quả nhất để cải thiện nhập siêu. Giảm thuế nhập khẩu theo cam kết của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã giúp một số quốc gia có cơ hội đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, đây cũng là một trong số những nguyên nhân chính khiến cho tình trạng nhập siêu ngày càng tăng. Tác động từ các chính sách đầu tư Các chính sách liên quan đến đầu tư cũng có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động kinh tế - thương mại trong một quốc gia qua một số kênh cơ bản như: - Các chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài - Các chính sách về đầu tư trong nước - Nguồn thu nhập chuyển giao từ nước ngoài: nguồn kiều hối, viện trợ, thu nhập ròng từ các dự án đầu tư nước ngoài,… - Nguồn vốn vay (nguồn vay đầu tư, vay thương mại). Theo nhiều nghiên cứu định lượng cho thấy nhập khẩu và đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Ở một số nước đang phát triển, thường không có hoặc không tự sản xuất, chuẩn bị được đủ các nguyên liệu đầu vào, cũng như các loại máy móc thiết bị cần thiết phục vụ cho sản xuất.
Do vậy, cách thức mà các nước đang phát triển thường dùng đó là nhập khẩu nguyên liệu và các máy móc thiết bị còn thiếu ở quốc gia khác nhằm bù đắp sự thiếu hụt đó ở trong nước. Tùy thuộc vào chiến lược đầu tư và chính sách bảo hộ thương mại trong từng giai đoạn mà tác động của các chính sách đầu tư đến xuất khẩu, nhập khẩu cũng khác nhau. 8 Các nguồn vốn đầu tư gián tiếp, nguồn kiều hối, viện trợ nước ngoài cũng gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp; cải thiện hoặc gây tình trạng nhập siêu. Với việc gia tăng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác dụng bù đắp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.
Tuy nhiên, khi FDI tăng thì kéo theo nhập khẩu cũng tăng. Do đó, nếu chính sách bảo hộ thiên lệch đối với xuất khẩu sẽ khiến cho tình trạng nhập siêu nghiêm trọng hơn nữa. Hơn nữa, khi luồng FDI vào (đặc biệt dưới dạng ngoại tệ) tăng lên, sẽ làm thay đổi sự tương quan giữa cung và cầu ngoại tệ; nếu Chính phủ không can thiệp, điều tiết kịp thời, sẽ dẫn đến khuynh hướng đồng nội tệ tăng giá, gây hạn chế cho xuất khẩu, dẫn đến nhập siêu và thâm hụt cán cân vãng lai. Với việc sử dụng và phân bổ nguồn vốn vay (nguồn vay đầu tư và vay thương mại) cũng gây ảnh hưởng tới cán cân thương mại, và liên quan trực tiếp tới khả năng trả nợ trong tương lai.
Nếu nguồn vốn vay đó được sử dụng hiệu quả như: đầu tư vào hạ tầng kinh tế xã hội, các ngành thay thế nhập khẩu,… về dài hạn sẽ có tác động tích cực tới cán cân thương mại. Ngược lại, nếu sử dụng nguồn vốn vay đó không hiệu quả, đầu tư dàn trải, không quy hoạch,… cũng sẽ gây thâm hụt trầm trọng cán cân tài khoản vãng lai và gia tăng nợ nước ngoài. Tác động từ tỷ giá hối đoái Theo giáo trình Tín dụng và thanh toán thương mại quốc tế, chủ biên Trần Văn Hòe - Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân: “Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về mặt giá trị giữa hai đồng tiền của hai quốc gia” hay nói cách khác “tỷ giá hối đoái chính là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước khác” [19, tr. Theo giáo trình Thanh toán quốc tế, chủ biên Đinh Xuân Trình và Đặng Thị Nhàn - Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật: “Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định.
Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia gọi là tỷ giá hối đoái” [9, tr. 9 Tỷ giá hối đoái được đánh giá là một trong những yếu tố trực tiếp và quan trọng nhất ảnh hưởng tới cán cân thương mại của một quốc gia, đặc biệt là nhập siêu vì nó ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ giá của đồng tiền ở một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ rẻ hơn, nhưng giá hàng hóa xuất khẩu lại đắt đỏ hơn đối với nước ngoài dẫn đến xuất khẩu ròng giảm. Và khi tỷ giá của đồng nội tệ giảm xuống, nhập khẩu sẽ giảm, xuất khẩu tăng dẫn đến xuất khẩu ròng tăng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái: - Sự can thiệp của Chính phủ và Nhà nước thông qua thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, các biện pháp bảo hộ mậu dịch,… - Mức chênh lệch lạm phát và lãi suất giữa các quốc gia - Mức độ tăng (giảm) của thu nhập quốc dân giữa các quốc gia - Những kỳ vọng, dự đoán về tỷ giá hối đoái trong tương lai - Các nhân tố khác: Khủng hoảng kinh tế, xã hội; thiên tai,… 1. Tác động từ cơ cấu và chu kỳ kinh tế Mục tiêu phấn đấu của tất cả các quốc gia là phát triển kinh tế ổn định và bền vững. Để thực hiện được mục tiêu đó thì trước hết cần thiết phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý. Có thể hiểu cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành cấu trúc (hay kết cấu) của một nền kinh tế trong quá trình sản xuất xã hội.
Cơ cấu kinh tế biểu thị mối liên kết hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận với nhau trong một không gian và thời gian nhất định. Khía cạnh số lượng được biểu hiện ở tỷ trọng (tính theo GDP, lao động, vốn,…) của mỗi bộ phận trong nền kinh tế, còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí tầm quan trọng của từng bộ phận và sự tác động qua lại giữa chúng.