Khóa luận tốt nghiệp đề tài thực trạng và giải pháp giảm nghèo ở xã văn nghĩa huyện lạc sơn tỉnh hòa bình

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp đề tài thực trạng và giải pháp giảm nghèo ở xã văn nghĩa huyện lạc sơn tỉnh hòa bình, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2018

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp giảm nghèo tại xã Văn Nghĩa huyện Lạc Sơn

Giải pháp giảm nghèo tại xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Xã Văn Nghĩa, với đặc điểm là một xã nghèo, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao đời sống người dân. Việc áp dụng các giải pháp giảm nghèo không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nơi đây.

1.1. Tình hình kinh tế xã hội tại xã Văn Nghĩa

Xã Văn Nghĩa có dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, với nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Tình hình kinh tế xã hội tại đây còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ.

1.2. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của tỉnh Hòa Bình

Tỉnh Hòa Bình đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ nhằm giảm nghèo cho các xã, trong đó có xã Văn Nghĩa. Các chương trình này bao gồm hỗ trợ vốn vay, đào tạo nghề và phát triển hạ tầng.

II. Thách thức trong công tác giảm nghèo tại xã Văn Nghĩa

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác giảm nghèo, xã Văn Nghĩa vẫn gặp phải nhiều thách thức. Tình trạng nghèo đói vẫn còn phổ biến, và việc tiếp cận các dịch vụ xã hội còn hạn chế. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết kịp thời.

2.1. Nguyên nhân khách quan dẫn đến nghèo đói

Các nguyên nhân khách quan như thiên tai, biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, làm gia tăng tình trạng nghèo đói tại xã Văn Nghĩa.

2.2. Nguyên nhân chủ quan trong công tác giảm nghèo

Sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng của người dân trong sản xuất nông nghiệp cũng như việc quản lý tài chính cá nhân là những nguyên nhân chủ quan dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài.

III. Phương pháp giảm nghèo hiệu quả tại xã Văn Nghĩa

Để giảm nghèo hiệu quả, xã Văn Nghĩa cần áp dụng các phương pháp phù hợp với điều kiện thực tế. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc tăng thu nhập mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân.

3.1. Đào tạo nghề và tạo việc làm cho người dân

Đào tạo nghề cho người dân là một trong những giải pháp quan trọng giúp nâng cao kỹ năng lao động, từ đó tạo ra nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho hộ nghèo.

3.2. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững

Phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững thông qua việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất sẽ giúp tăng năng suất và thu nhập cho người dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại xã Văn Nghĩa

Các giải pháp giảm nghèo đã được áp dụng tại xã Văn Nghĩa và đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá và điều chỉnh để nâng cao hiệu quả của các chương trình này.

4.1. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ giảm nghèo

Các chương trình hỗ trợ đã giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo tại xã Văn Nghĩa từ 3% xuống còn 2,5% trong những năm gần đây, cho thấy sự hiệu quả của các chính sách này.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Việc lắng nghe ý kiến của người dân và điều chỉnh các chương trình hỗ trợ theo nhu cầu thực tế là bài học quan trọng trong công tác giảm nghèo tại xã Văn Nghĩa.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho xã Văn Nghĩa

Giảm nghèo tại xã Văn Nghĩa là một quá trình dài hạn và cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

5.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội bền vững

Xã Văn Nghĩa cần xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội bền vững, tập trung vào việc nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện hạ tầng.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong giảm nghèo

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình giảm nghèo sẽ giúp tạo ra sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả của các giải pháp.

27/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp đề tài thực trạng và giải pháp giảm nghèo ở xã văn nghĩa huyện lạc sơn tỉnh hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO 1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo 1.1 Khái niệm về đói nghèo Trong đời sống thực tiễn cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn đề kinh tế - xã hội chúng ta thường thấy các khái niệm đói nghèo, nghèo khổ, giàu – nghèo, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, phân hóa giai cấp, khái niệm giàu nghèo nếu tách riêng ra để phân tích và định dạng thì giữa đói và nghèo đều có quan hệ mật thiết với nhau vừa có sự khác biệt về cấp độ và mức độ. Khái niệm về nghèo có nhiều quan niệm khác nhau, cụ thể: Theo Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương(ESCAP) đã đưa ra định nghĩa về đói nghèo như sau: “ Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” đây được xem là định nghĩa trung nhất về đói nghèo, nó mang tính chất hướng dẫn cho phương pháp đánh giá nhận xét nét chính của sự đói nghèo. Quan niệm trong định nghĩa này là nhu cầu cơ bản của con người, tức là yếu tố cần thiết để duy trì sự sống của con người như ăn, ở và mặc. Căn cứ để xác định đói hay nghèo là ở chỗ con người không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản ấy.

Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng và thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ chi đủ cho nhu cầu ăn, thậm trí không chi đủ cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có. Ngoài ra các nhu cầu khác như ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất ít ỏi. Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lương tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hằng ngày do đó không đủ sức khỏe để lao động. Ngày nay hầu như các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Ngân Hàng Thế Giới đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo, trong đó bao hàm cà những nhu 5 cầu vật chất chất tối thiểu và những nhu cầu xã hội khác, theo đó đói nghèo bao gồm những khía cạnh cơ bản sau: Trước tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất Sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro Không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo Như vậy, trong những khía cạnh được nêu ở trên thì yếu tố đầu tiên và cũng là cơ bản nhất chính là sự khốn cùng về vật chất.

Ngân Hàng Thế Giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đô la của Thế Giới để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn nghèo tuyệt đối. Trong chương trình Liên hợp quốc năm 1997,để phân định rõ ranh giới giữa nghèo tuyệt đối, ngân hàng thế giới đã đưa ra chuẩn nghèo tuyệt đối cho từng địa phương hay từng khu vực được xác định từ 2 đô la cho châu Mỹ la tinh và Carribean đến 4 đô la cho các nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp Theo quyết định số 143/2001/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001 về việc phê duyệt “ Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005” những hộ nghèo có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn, hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng ( 960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập từ 150.000 đồng/người/tháng ( 1.000 đòng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Sau đó theo quyết định số 170/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 thấng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 thì ở khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập 200.000 đồng/người/tháng (2.000 đòng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. Theo chỉ định số 1752/CT – TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện 6 các chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 – 2015 thì tiêu trí hộ nghèo được quy định: Đối với các hộ nông thôn có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, đói với khu vực thành thị những hộ nông dân có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2011-2020, Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn, và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.2 Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên Thế Giới và Việt Nam * Tiêu chí đánh giá trên thế giới Để xác định các chỉ tiêu về đói nghèo, trên thế giới đã đưa ra những chuẩn mực đánh giá sau: - Thu nhập quốc dân tính theo đầu người GNP Chỉ tiêu này do ngân hàng thê giới (WB) đưa ra để đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia Ví dụ: Căn cứ theo GDP/đầu người/năm vào thời điểm năm 1990 để phân tích cho thấy: trên 25.000 USD là nước cực giàu, trên 20.000 USD là nước giàu, trên 10.000 USD là nước khá giàu, trên 2.000 USD là nước trung lưu, trên 500 – 2.500 USD là nước nghèo, dưới 500 USD là nước cực nghèo. Ở Việt Nam là gần 400 USD/người/năm (1990) được xếp thứ 110/171 nước trên thế giới, nằm trong nhóm các nước cực nghèo Năm 2007 thu nhập bình quân của Việt Nam khoảng 835 USD/năm xếp 122/177 quốc gia về thu nhập bình quân đầu người Năm 2017 thu nhập bình quân của Việt Nam là 2.306 USD/năm xếp thứ 132/186 quốc gia về thu nhập bình quân đầu người - Chỉ tiêu phát triển con người ( HDI) Chỉ tiêu này do chương trình phát triển liên hợp quốc đưa ra gồm 3 chỉ tiêu chính: 7 + Tuổi thọ trung bình dân cư + Trình độ học vấn, bao gồm tỷ lệ biết đọc, biết viết của dân cư, số năm đi học của người dân + Thu nhập bình quân đầu người HDI của Việt Nam được đo trong năm 2004 là 0,709 và đứng ở vị trí 109 trong tổng số 177 nước được xếp hạng, theo “Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008” của Liên Hợp Quốc cho thấy, Việt Nam hiện chỉ có chỉ số phát triển con người HDI ở dạng trung bình, với chỉ số là 0,733. So với năm trước, Việt Nam đã tăng 4 bậc từ vị trí 109 lên vị trí 105 trong số 177 nước. - Chỉ tiêu chất lượng cuộc sống (PQLI) Đề cập vào ba điểm có tính phổ biến về nhu cầu cơ bản của con người: + Tuổi thọ dự báo khi một tuổi + Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh + Tỷ lệ xóa mù chữ Sự kết hợp chỉ tiêu GNP, HDI, PQLI cho phép nhìn nhận nước giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn.

Nó cho phép đánh giá khách quan, và toàn diện sự phát triển con người trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. * Tiêu chí đánh giá của Việt Nam - Chỉ số đánh giá đói nghèo Dựa trên những định nghĩa đói nghèo ở Việt Nam, thước đo sử dụng phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập là điểm số người sống dưới chuẩn nghèo. Tỷ lệ nghèo được tính bằng tỷ lệ phần trăm của dân số, việc sử dụng chỉ số này là cần thiết để đánh giá tình trạng nghèo và những thành công trong mục tiêu giảm nghèo của quốc gia và thế giới Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo với ngưỡng nghèo, tính bằng tỷ lệ phần trăm so với ngưỡng nghèo. Khi so sánh nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ nghèo khổ khác nhau giữa các nhóm.

- Chỉ tiêu đánh giá: 8 Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá đói nghèo ở Việt Nam được tính trên nhiều phương diện khác nhau căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay, có thể đưa ra một số chỉ tiêu chính để đánh giá đói nghèo như sau: Chỉ tiêu về thu nhập: Thu nhập bình quân một người một tháng ( hoặc năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường dùng lương thực (gạo) để đánh giá. Thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần túy và cần xác định rõ chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu tháng để xác định mức đói nghèo. Chỉ tiêu về nhà ở và tiện nghi sinh hoạt: Căn cứ trên hiện trạng nhà cửa và các đồ dùng sinh hoạt, chỉ tiêu này mang tính chất tương đối vì phụ thuộc vào thời điểm đánh giá chỉ tiêu. Chỉ tiêu tư liệu sản xuất: Những người đói nghèo có ít thậm chí có ít tư liệu sản xuất bên cạnh đó tư liệu sản xuất của họ lại thô sơ.

Một bộ phận lớn người nghèo còn thiếu ruộng đất canh tác, sản xuất. Chỉ tiêu về vốn: Tính trên số tiền được sử dụng vào sản xuất kinh doanh, người nghèo hiện nay đa phần là đi vay nợ hoặc vay tín dụng của ngân hàng và các tổ chức tài chính vi mô Hiện nay các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo còn xét trên nhiều yếu tố khác như giáo dục, y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và không có quyền lực. * Chuẩn nghèo Để xác định được ngưỡng đói nghèo thì điểm mẫu chốt của vẫn đề phải xác ddingj được chuẩn mực đói nghèo. Do chuẩn đói nghèo là khái niệm động, nó biến động theo thời gian và không gian nên không thể đưa ra được những chuẩn mực chung cho đói nghèo để áp dụng cho công tác xóa đói giảm nghèo, mà cần phải có chỉ tiêu, tiêu chí riêng cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ