MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong lịch sử xã hội của loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp tới nay, vấn đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của một cuốc gia, từng khu vực và và toàn bộ nền văn minh hiện đại Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi. Trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất Khóa luận Nghiên cứu định.
Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả. Xuân Lập là xã vùng cao của huyện Lâm Bình; xã hiện có 5 thôn bản với 470hộ/2.183 nhân khẩu, chủ yếu là dân tộc Mông, Dao, Tày. cùng sinh sống. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động là 1.
Theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016 - 2021, toàn xã có 370 hộ nghèo, chiếm trên 78%. Do vậy, Công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã đang từng bước được thực hiện với mục đích là giảm tỷ lệ hộ nghèo trong những năm tới. XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đề ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xoá nghèo. 2 Với tầm quan trọng và tính cấp thiết như trên với sự giúp đỡ quan tâm của các cấp ban ngành của Đảng và Nhà Nước thì những năm qua xã Xuân Lập đã tổ chức và thực hiện rất nhiều những chương trình theo chủ chương chính sách của Nhà Nước trong việc hỗ trợ và giúp đỡ người nghèo nhằm giảm tỷ lệ nghèo đói nơi đây.
Là một người con trong xã và cũng là một sinh viên sắp ra trường. Trải qua quá trình tìm tòi và nghiên cứu em đã thấy được tính cấp thiết của của việc giảm nghèo, vì vậy em đã quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều ở xã Xuân Lập - huyện Lâm Bình - tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài nghiên cứu khóa luận. Mục tiêu nghiên cứu 1.Mục tiêu chung Phân tích thực trạng đói nghèo trên địa bàn xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo và từ đó đề xuất giải pháp nhằm giảm nghèo nâng cao mức sống cho người dân ở xã Khóa luận Nghiên cứu Xuân Lập, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, góp phần và phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Tuyên Quang.Mục tiêu cụ thể -Hệ thống hóa được lý luận và thực tiễn về nghèo và giảm nghèo - Đánh giá thực trạng nghèo, giảm nghèo đa chiều ở xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang - Chỉ ra nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang - Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm nghèo đa chiều ở xã Xuân Lập, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. - Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ Giáo dục và 3 Đào tạo đề ra có tính chất tất yếu giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiệm thực tế.
Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn. Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam. Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc dễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống. Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội.
*Ý nghĩa thực tiễn Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương Khóa luận Nghiên cứu trình triển khai tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành đoàn thể trong xã đưa ra được những biện pháp giảm nghèo có hiệu quả hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số quan điểm về nghèo và giảm nghèo 2.
Một số khái niệm và định nghĩa về nghèo Trên thế giới nghèo được quan niệm: Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về đói nghèo là: “ Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học và xã hội học” [5]. Sự thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng đủ nhu cầu về vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở. Sự thiếu hụt về mặt xã hội học liên quan đến các vấn đề như bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội. Từ những khái niệm trên, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) đã đưa Khóa luận Nghiên cứu ra khái niệm nghèo như sau: “ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”[5].
Hiện nay, Việt Nam khái niệm chung về nghèo đói được đưa ra tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, tại Băng Cốc, Thái Lan do ESCAP tổ chức vào năm 1993, các quốc gai trong khu vực thống nhất cho rằng. “Nghèo đói là tình trạng trong một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”[5]. Ở việt Nam hai vấn đề nghèo và đói khác nhau: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo 5 khổ, sự bần cùng được thể hiện là đói, là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động.
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Mức tối thiểu được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và nhu cầu khác như: văn hóa, giáo dục, y tế, giao tiếp. Trong hoàn cảnh nghèo thì người nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những mưu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất biểu hiện thực chất là bừa ăn. Họ không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có.
Điều này đặc biệt rõ ở vùng nông thôn với hiện tượng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng hưởng thụ văn hóa, chữ bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể Khóa luận Nghiên cứu mua sắm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở. Liên hợp Quốc đã đưa ra hai khái niệm về nghèo đó là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau: Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Ngoài những nhu cầu cơ bản trên, cũng có ý kiến cho rằng nhu cầu tối thiểu bao gồm quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.
Nghèo tương đối: là tình trạng không đạt tới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó. Khái niệm giảm nghèo và quan điểm về giảm nghèo Giảm nghèo hiểu đơn giản là làm cho kinh tế của những hộ nghèo khá lên, thoát khỏi ngưỡng nghèo. XĐGN phải dựa trên cơ sở tăng trưởng 6 kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo ra các nguồn lực cho các hoạt động trợ giúp người nghèo đói.[13] Quan điểm này dựa trên lô-gic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu quả người nghèo đói thì Nhà nước phải có đủ nguồn lực vật chất trong tay, bởi vì chính bản thân nhà nước là chủ thể có đầy đủ các khả năng điều hoà thu nhập giữa các nhóm dân cư. Hơn nữa, các nguồn lực vật chất để thực hiện sự điều hoà thu nhập ấy lại chỉ có thể có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững.
Thực tế cho thấy, nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài chính để mở rộng các dự án, các chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho hàng ngàn xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, trên cơ sở đó những người nghèo ở những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát nghèo đói. Nhìn chung, ở đâu kinh tế phát triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế đa dạng, việc làm đầy đủ, thì ở đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giàu tăng lên và bộ mặt xã hội của cộng đồng Khóa luận Nghiên cứu thay đổi nhanh chóng.