Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững Chương 2. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Cô Tô Chương 4.
Giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Cô Tô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm nghèo Tại hội nghị về chống nghèo do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: "Nghèo l tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người m những nhu cầu ấ phụ thuộc v o trình độ ph t triển kinh tế - xã hội phong tục tập qu n của từng vùng v những phong tục ấ được xã hội thừa nhận" [17]. Tại hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đƣa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo nhƣ sau: "Người nghèo l tất cả những ai m thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ng cho mỗi người số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết ếu để tồn tại ".
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm: "Con người bị coi l nghèo khổ khi m thu nhập của họ nga dù thích đ ng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì m đa số trong cộng đồng coi như c i cần thiết tối thiểu để sống một c ch đúng mực". Định nghĩa về nghèo của Engberg-Pedersen (1999) “Người nghèo l những người không thể khai th c được c c cơ hội vì thiếu năng lực v nguồn lực v bị phụ thuộc v o người kh c”. Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo là tình trạng không có khả năng để có mức sống tối thiểu, chúng bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu nhƣ giáo dục, y tế, dinh dƣỡng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm nghèo đƣợc xác định nhƣ sau: “Nghèo l tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu v cơ bản nhất trong cuộc sống v có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét tr n mọi phương diện”. Vấn đề nghèo đƣợc chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tƣơng đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại. - Nghèo tƣơng đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ thuộc diện nghèo có mức sống dƣới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phƣơng đang xét.
- Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cƣ có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống nhƣ đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhƣng ở mức tối thiểu. Tất cả những khái niệm trên, có thể nhận thấy đều phản ánh những khía cạnh chủ yếu của ngƣời nghèo: - Thứ nhất, ngƣời nghèo không đƣợc đáp ứng nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con ngƣời. - Thứ hai, ngƣời nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cƣ. - Thứ ba, ngƣời nghèo thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng, xã hội.
Quan điểm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là thƣớc đo mức sống của dân cƣ để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện hộ nghèo. Trên thế giới hình thành 03 phƣơng pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: phƣơng pháp dựa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vào nhu cầu chi tiêu; phƣơng pháp dựa vào thu nhập thực tế; phƣơng pháp dựa vào đánh giá của ngƣời dân. Trong 03 phƣơng pháp trên thì 02 phƣơng pháp đầu đƣợc các quốc gia sử dụng khá phổ biến. Để xác định chuẩn nghèo có nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác nhau.
Trên thế giới ngƣời ta lấy những chỉ tiêu: chất lƣợng cuộc sống, chỉ tiêu phát triển con ngƣời, chỉ tiêu nhu cầu dinh dƣỡng, chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu ngƣời để làm các tiêu chí xác định chuẩn nghèo [18]. Ngân hàng Thế giới WB sử dụng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu ngƣời làm tiêu chí xác định chuẩn nghèo. Thu nhập bình quân theo đầu ngƣời là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh đƣợc quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của ngƣời dân trong một nƣớc. Hiện nay trên thế giới tồn tại 02 phƣơng pháp tính toán thu nhập quốc dân bình quân theo đầu ngƣời chủ yếu của ngân hàng Thế giới WB đó là: Phƣơng pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD và phƣơng pháp PPP (purchasing power parity) là phƣơng pháp tính theo sức mua tƣơng đƣơng và cũng tính bằng USD.
- Theo phƣơng pháp Atlas, năm 1990 ngƣời ta chia mức bình quân của các nƣớc trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc cực giàu.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc giàu.000 USD/ngƣời/năm là khá giàu.000 USD/ngƣời/năm là nƣớc trung bình.500 USD/ngƣời/năm là nƣớc nghèo. + Dƣới 500USD/ngƣời/năm là nƣớc cực nghèo. Theo phƣơng pháp này, Việt Nam có thu nhập khoảng 1.200 USD (năm 2010) thuộc nhóm nƣớc nghèo. Tuy nhiên theo phƣơng pháp này, việc chuyển đổi thƣờng bị sai lệch, không phản ánh đƣợc tính ngang giá của sức mua.
Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên Hợp Quốc đã đề ra phƣơng pháp tính bình quân thu nhập mỗi nƣớc theo sức mua tƣơng đƣơng (PPP). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Phƣơng pháp PPP: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phƣơng pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tƣơng đƣơng để tính đƣợc mức thu nhập dân cƣ giữa các quốc gia có thể so sánh. Sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu, WB đã đƣa ra ngƣỡng nghèo chung (theo PPP) [18].
Đối với các nƣớc có thu nhập thấp < 1USD/ 1 ngày, đối với các nƣớc có thu nhập trung bình < 2 USD/ ngày. Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nƣớc, hộ nghèo là hộ có thu nhập dƣới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế - xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia, do đó không thể lấy chuẩn nghèo của WB để xác định nghèo của Việt Nam. Ở Việt Nam trong những năm qua đã dựa trên 2 căn cứ để xác định chuẩn nghèo.
Một là căn cứ vào chuẩn nghèo của cục thống kê và ngân hàng Thế giới. Hai là căn cứ vào chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao Động - Thƣơng binh và xã hội công bố. Tổng Cục thống kê với vai tr thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng Ngân hàng thế giới áp dụng phƣơng pháp xác định chuẩn nghèo theo phƣơng pháp đo lƣờng mức sống của Ngân hàng thế giới đƣa ra chuẩn nghèo của Việt Nam gồm 02 mức: mức nghèo lƣơng thực, thực phẩm và mức nghèo chung. Mức nghèo lƣơng thực thực phẩm đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu ngƣời/ tháng.
C n mức nghèo chung Tổng cục thống kê dựa trên mức chi tiêu bình quân đầu ngƣời/ tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo. Nhƣ vậy các chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng quốc gia theo từng giai đoạn Bộ Lao động - Thƣơng binh và xã hội là cơ quan thƣờng trực của chƣơng trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Lúc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đầu chuẩn nghèo đƣợc xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang mức thu nhập. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là đảm bảo từng bƣớc thoả mãn nhu cầu của con ngƣời (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá…).
Chuẩn nghèo đƣợc điều chỉnh gắn với tăng trƣởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của ngƣời dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của ngƣời dân. Mặt khác theo phƣơng pháp này, tạo điều kiện cho cơ sở có thể triển khai đƣợc việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết. Tuy nhiên, phƣơng pháp tiếp cận này có hạn chế là chƣa tính toán đầy đủ nhu cầu tiêu dùng (chỉ chú ý một số nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm và một số nhu cầu phi lƣơng thực, thực phẩm). Độ tin cậy chƣa cao do không có điều kiện điều tra diện rộng, thu nhập thông tin về thu nhập của ngƣời dân nông thôn và miền núi rất khó chính xác.
Mặc dù có một số hạn chế nhƣng cách tính chuẩn nghèo của Bộ lao động - Thƣơng binh và Xã hội là tƣơng đối phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay. Hiện nay chủ yếu là sử dụng chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thƣơng binh và xã hội đƣa ra. Chuẩn nghèo này đƣợc tính toán dựa vào nhu cầu chi tiêu cơ bản của lƣơng thực, thực phẩm (nhu cầu ăn uống hàng ngày) và nhu cầu chi tiêu phi lƣơng thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa, giao tiếp, đi lại…). Ở Việt Nam đã 06 lần điều chỉnh chuẩn nghèo từ năm 1993 đến nay: - Giai đoạn 1993 - 1995: Khu vực nông thôn Khu vực thành thị Thu nhập bình quân < 15 kg gạo/ ngƣời/ tháng < 20kg gạo/ ngƣời/ tháng + Khu vực thành thị bình quân thu nhập đầu ngƣời dƣới 20kg gạo/ ngƣời/ tháng.
+ Khu vực nông thôn dƣới 15kg gạo/ ngƣời/ tháng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.