Lời mở đầu của Luật Đất đai năm 1988 đã xác định vị trí, vai trò quan trọng của đất đai: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được vốn đất như ngày nay” [39]. Thật vậy, đất đai tồn tại từ trước khi xuất hiện loài người, qua nhiều thiên niên kỷ, con người sống và tồn tại cùng đất. Đất đai có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là điều kiện tiên quyết cho sự sống còn của con người và các loài động vật trên trái đất.
Đối với mỗi quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên, nguồn lực vô cùng quý giá, và là yếu tố hàng đầu rất quan trọng không thể thiếu được. Đất đai, ngoài vai trò là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp, đất còn giữ vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Nếu không có đất thì con người không có nơi sinh sống và sẽ không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, một quá trình lao động nào và không thể có sự tồn tại của loài người. Trong đời sống xã hội, đất là nơi cư trú của con người, là nơi con người xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình trên mặt đất, trong lòng đất để phục vụ cho cuộc sống của con người (như: xây dựng các công trình sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích công cộng; xây dựng trụ sở cơ quan, tổ chức sự nghiệp để phục vụ mục đích quản lý hành chính; xây dựng các công trình giao thông, đường xá, trạm, bến để phục vụ nhu cầu đi lại; xây dựng nhà máy, xưởng sản xuất, khu công nghiệp để sử dụng vào sản xuất hàng hoá, cung cấp đồ dùng, vật dụng; xây dựng trung tâm thương mại, chợ, siêu thị để phục vụ hoạt động trao đổi hàng hoá, giao thương; xây dựng công viên, khu vui chơi, giải trí, thể thao để đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi, rèn luyện sức khoẻ; đất để xây dựng trường học, bệnh viện, nghĩa trang, … [42].
Ở Việt Nam, đất đai là vấn đề hệ trọng của đất nước. Ngay từ khi mới giành được chính quyền từ chế độ thực dân phong kiến, Đảng ta đã coi đất đai là một trong những mục tiêu đấu tranh cách mạng. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của đất đai nên trong mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách đất đai phù hợp, là nguồn lực cơ bản để tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, người ta coi đất đai là hàng hoá đặc biệt.
Câu nói “ tấc đất, tấc vàng ” nói lên sự quý giá ở tầm mức cao nhất của đất đai thực ra cũng không đủ. Dưới góc độ giá trị lịch sử - xã hội : “ mỗi tấc đất đều nhuốm máu cha ông ”; đất đai là “giang sơn gấm vóc ” thì sự thiêng liêng, quý giá ấy khó lấy thước đo nào mà định giá. Trước khi trở thành hàng hoá đặc biệt thì từ hàng triệu năm qua đất đai đã là tài nguyên 6 đặc biệt, trước hết bởi đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên dành cho con người, cho loài người; tiếp đến mới là thành quả do tác động khai phá của con người. Tính chất vô cùng đặc biệt của đất đai là ở chỗ tính chất tự nhiên và tính chất xã hội đan quyện vào nhau; nếu không có nguồn gốc tự nhiên, thì con người dù có tài giỏi đến đâu cũng không tự mình (dù là sức cá nhân hay tập thể) tạo ra đất đai được.
Con người có thể làm ra nhà máy, lâu đài, công thự và sản xuất, chế tạo ra muôn nghìn thứ hàng hoá, sản phẩm, nhưng không ai có thể sáng tạo ra đất đai. Do đó, quyền sở hữu, định đoạt, sử dụng đất đai, Nhà nước hay người dân cần phải hiểu đặc điểm, đặc thù hết sức đặc biệt ấy. Vì thế, sự ứng xử của Nhà nước hay người dân với vấn đề đất đai trong hoạt động quản lý không thể đơn giản hoá cả trong nhận thức cũng như trong hành động [76]. Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Xã hội ngày càng phát triển thì giá trị của đất đai sẽ càng cao và yêu cầu về sử dụng đất ngày càng phải tốt hơn, với hiệu quả kinh tế và xã hội cao hơn. Vì vậy, việc sử dụng có hiệu quả đất đai không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước, mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị, CNH, ĐTH và phát triển KT – XH đất nước. Nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả trong thời kỳ phát triển đất nước theo KTTT định hướng XHCN, Nhà nước đã ban hành Luật Đất đai năm 2003, trong đó qui định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, đồng thời “Nhà nước trao QSDĐ cho NSDĐ thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ đối với người đang SDĐ ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của NSDĐ” [39]. Như vậy bằng quy định của pháp luật, Nhà nước có các quyền: (1) định đoạt đối với đất đai (Quyết định mục đích SDĐ; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; Định giá đất); (2) điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai (Thu tiền SDĐ, tiền thuê đất; Thu thuế SDĐ; Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của NSDĐ mang lại).
NSDĐ có các quyền và nghĩa vụ sau: (1) Về Quyền được: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng, cho QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ; Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; Cấp GCNQSDĐ; Hưởng thành quả lao động, đầu tư trên đất;.; (2) Về nghĩa vụ được: SDĐ đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất; Giao lại đất khi Nhà nước thu hồi hoặc hết thời hạn SDĐ;. Từ việc Nhà nước quy định về giao đất sử dụng ổn định lâu dài đến việc mở rộng các quyền của NSDĐ đã giúp họ yên tâm, khuyến khích họ đầu tư, bảo vệ, khai thác và SDĐ hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Giải phóng mặt bằng (GPMB) 1. Khái niệm về GPMB Như đã trình bày ở trên, đất đai là nguồn lực và là điều kiện cơ bản cho sản xuất cũng như phát triển KT-XH.
Trong quá trình này, nhằm phục vụ triển khai các dự án, công trình phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế, thì một bộ phận quỹ đất được chuyển đổi công năng và mục đích sử dụng, do đó phải tổ chức thu hồi đất, GPMB. Thực tế cho thấy, trong mọi giai đoạn phát triển lịch sử và trong các hình thái xã hội khác nhau, việc lấy đất hay thu hồi đất, GPMB để sử dụng vào một mục đích nào đó của nhà nước luôn tồn tại như một tất yếu. Khi KT-XH càng phát triển, nhất là giai đoạn ĐTH 7 và CNH với tốc độ cao, thì đặt ra nhiệm vụ thu hồi đất, GPMB rất to lớn, nặng nề. GPMB chỉ khác nhau ở cách tiếp cận, hình thức tổ chức thực hiện dựa trên cơ sở các quy định chế độ sở hữu về đất đai của Nhà nước.
Ví dụ, ở giai đoạn xã hội nguyên thủy do đất đai là sở hữu chung thì việc lấy đất sử dụng chung cho cộng đồng thì cộng đồng quyết định. Trong xã hội phong kiến, dựa trên chế độ sở hữu địa chủ phong kiến về đất đai nên việc lấy đất hay thu hồi đất là độc quyền của Vua Chúa. Trong xã hội KTTT dựa trên sở hữu tư nhân về đất đai, nhà nước và các tổ chức thực hiện thu hồi đất đai, GPMB có tính tới lợi ích của các bên liên quan và đền bù theo giá thị trường. Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, cũng như Luật Đất đai năm 1988, 1993 và năm 2003 đều đã khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý; nhà nước trao QSDĐ cho tổ chức, HGĐ, CN (NSDĐ) thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, chuyển nhượng QSDĐ, cho, tặng, góp vốn,.
khi nhà nước thu hồi đất, GPMB thì NSDĐ sẽ được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện Hiến pháp và Pháp luật về đất đai trong GPMB, một mặt, là thuộc chức năng vai trò sở hữu và quản lý tối cao của nhà nước về đất đai; đồng thời thông qua đó chuyển đất đai thành nguồn lực phục vụ cho phát triển vì lợi ích xã hội, cộng đồng và người dân. Phạm trù GPMB khá rộng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu tiếp cận GPMB dưới giác độ có liên quan đến việc phải thu hồi đất, thực hiện bồi thường, hỗ trợ, TĐC, giải toả mặt bằng để triển khai dự án. Có hai cách tiếp cận chủ yếu: Thứ nhất, tiếp cận GPMB là quá trình đền bù trước khi thu hồi đất: “Muốn có mặt bằng „sạch” để thực hiện dự án, cần phải tiến hành việc đền bù và các công việc khác nhằm thu hồi đất và di chuyển ra khỏi vùng dự án” [31; tr.
Thứ hai, tiếp cận GPMB toàn diện, bao gồm cả công tác chuẩn bị thu hồi đất và sau thu hồi đất: “GPMB được hiểu là công tác tổ chức thu hồi đất (gồm đất ở, đất nông nghiệp và các loại đất khác) trong vùng quy hoạch, nhằm tạo ra mặt bằng hay “quỹ đất sạch” cho các dự án phát triển hạ tầng, đô thị và công nghiệp - thương mại - dịch vụ.