phần mở đầu, kết luận và các phụ lục khác, khóa luận tốt nghiệp của em được chia làm 3 chương. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu vốn và đổi mới cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng cơ cấu vốn tại CTCP LIDECO 2. Chƣơng 3: Giải pháp đổi mới cơ cấu vốn và xây dựng cơ cấu vốn tối ưu tại CTCP LIDECO 2.
3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ ĐỔI MỚI CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Để có thể tiến hành SX KD, các chủ thể kinh tế nói chung hay các doanh nghiệp nói riêng đều cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Vốn tiền tệ không chỉ là một yếu tố đầu vào quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất mà còn có vai trò quan trọng trong cả quá trình SK KD liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Do vậy, việc quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả là mục tiêu hàng đầu của mỗi doanh nghiệp. Vậy, vốn của doanh nghiệp là gì? Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Marx, ông cho rằng “Vốn chính là tư bản, không phải vật chất, là tư liệu sản xuất, không phải phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê.” Marx chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến.
Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng, .) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất có sự thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng. Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn, song do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà ông quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái Tân cổ điển đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố đầu vào của sản xuất thành ba bộ phận là đất đai, lao động và vốn. Theo ông, vốn là các hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất kinh doanh mới, là yếu tố đầu vào cho hoạt động SX KD của một doanh nghiệp, đó có thể là máy móc, trang thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ… Có thể nhận thấy trong quan điểm về vốn của Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, mặc dù những tài sản 4 này có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn kinh tế học thì “Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị khác của doanh nghiệp.” Quan điểm này cho thấy được nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn, đồng thời bổ sung định nghĩa vốn tài chính cho định nghĩa vốn của Samuelson. Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn tiêu biểu ở trên, ta có thể khái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành SX KD nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận.
Vốn của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho hoạt động SX KD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, được coi là quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu, có ý nghĩa quan trọng quyết định tới sự thành bại trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Đặc trƣng về vốn của doanh nghiệp Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản, có nghĩa là vốn biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vô hình như: nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, thông tin… Vốn không tách tời chủ sở hữu trong quá trình vận động, mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, chỉ có xác định rõ được chủ sở hữu thì đồng vốn mới được sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao.
Tùy theo hình thức đầu tư mà người sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời. Song, dù trong trường hợp nào thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Vốn luôn vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để trở thành vốn thì đồng tiền đó phải được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm kiếm lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn 5 có thể biểu hiện ở nhiều hình thái khác nhau, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị. Vốn có giá trị về mặt thời gian: Giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: đầu tư, rủi ro, lạm phát. nên một đồng hôm nay có giá trị hơn giá trị đồng tiền ngày hôm sau.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay cần xem xét về yếu tố thời gian của đồng vốn, bởi do ảnh hưởng của sự biến động giá cả thị trường, lạm phát. nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. Vốn được tập trung, tích tụ ở một lượng nhất định mới phát huy tác dụng: khi muốn đầu tư vào quá trình SX KD, vốn phải được tập trung thành một lượng đủ lớn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và chủ động trong các phương án SX KD. Vốn là một quỹ tiền tệ đặc biệt, mục tiêu của quỹ là tích lũy (để phục vụ cho hoạt động SX KD) chứ không phải vì mục đích tiêu dùng như một vài quỹ khác có trong doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Những người có vốn có thể cho vay và những người cần vốn sẽ đi vay, có nghĩa là mua quyền sử dụng vốn của những người có quyền sở hữu vốn. Người đi vay phải trả một tỷ lệ lãi suất nhất định hay chính là giá của quyền sử dụng vốn, người cho vay sẽ không mất quyền sở hữu vốn mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Vai trò của vốn đối với mỗi doanh nghiệp Vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp dù ở hình thức nào.
Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định. Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp muốn đăng ký kinh doanh thì cần phải đáp ứng đủ số vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh cụ thể của mình (vốn theo quy định không chỉ là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng mà còn gồm cả các tài sản thuộc sở hữu của các chủ doanh nghiệp). Vốn đầu tư ban đầu này sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để cơ 6 quan nhà nước có thẩm quyền xem xét liệu doanh nghiệp có tồn tại trong tương lai được không và trên cơ sở đó, sẽ cấp hay không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Về phía doanh nghiệp, vốn điều lệ sẽ là nền móng cho sự hình thành của doanh nghiệp trong hiện tại và phát triển trong tương lai. Vốn là điều kiện tiền đề của quá trình SX KD. Trong quá trình hoạt động SX KD của doanh nghiệp, vốn đóng vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp tiến hành và duy trì những hoạt động của mình nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hơn thế, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng SX KD cả về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng thu nhập cho người lao động…từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo lợi thế cạnh tranh, khẳng định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
Việc đảm bảo tốt nguồn vốn kinh doanh giúp doanh nghiệp chống đỡ trước những tổn thất, rủi ro, biến động của thị trường… trong quá trình hoạt động. Vốn là một nguồn lực quan trọng để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp, nó là một điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh. Vốn là công cụ được sử dụng để đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình SX KD của doanh nghiệp. Nhờ đó, các nhà quản trị tài chính có thể phân tích, nhìn nhận, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tìm ra hạn chế, nguyên nhân và các biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời.
Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện kinh doanh, mục tiêu, chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp. Xét từ góc độ quyền sở hữu, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ những nguồn sau: Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn VCSH là số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết mà doanh nghiệp có quyền chi phối và sử dụng. Số vốn này không phải khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán và không phải 7 trả lãi suất.
VCSH là nguồn vốn có tính chất khá ổn định và nếu duy trì ở mức hợp lý có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao. Khi doanh nghiệp mới thành lập, VCSH do các thành viên đóng góp hình thành nên nguồn vốn điều lệ. Nguồn vốn này cho thấy được rõ nét nhất tính tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động SX KD và phải duy trì luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định trong suốt thời gian hoạt động.